Thứ Tư, 8 tháng 6, 2022

Arthur Schopenhauer: Luận về thiên tài

 

Nguyễn Đình Đăng dịch

Arthur Schopenhauer (1788 - 1860)

Arthur Schopenhauer (1788 – 1860)

Lời người dịch:

Arthur Schopenhauer (1788 – 1860) là một trong những triết gia vĩ đại nhất t.k. XIX. Ông có ảnh hường lớn tới văn học và công chúng nhờ văn phong giản dị, dễ hiểu, hiếm thấy ở một triết gia Đức nói riêng, và ở triết gia nói chung. Ông còn là triết gia phương Tây đầu tiên nghiên cứu và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cả kinh Vệ Đà và kinh Phật. 

Schopenhauer đã có ảnh hưởng lớn tới những trí tuệ sáng giá nhất của nhân loại như triết gia Friedrich Nietzsche, nhà soạn nhạc Richard Wagner, triết gia Ludwig Wittgenstein, nhà vật lý Erwin Schrödinger, nhà vật lý Albert Einstein, nhà phân tâm học Sigmund Freud, nhà phân tâm học Otto Rank, bác sĩ tâm thần Carl Jung, nhà thần thoại học Joseph Campbell, văn hào Lev Tolstoy, văn hào Thomas Mann, và nhiều người khác.

Richard Wagner, sau khi đọc đi đọc lại tác phẩm “Thế giới như Ý chí và Hình dung” của Schopenhauer bốn lần, đã viết trong hồi ký tự thuật rằng cuốn sách này đã ảnh hưởng căn bản toàn bộ cuộc đời ông. Trong một bức thư viết năm 43 tuổi (1856), Wagner thừa nhận triết học của Schopenhauer đã giúp ông hiểu được các sáng tác âm nhạc của chính mình.

Friedrich Nietzche thừa nhận Schopenhauer đã khiến ông tỉnh ngộ trong triết học và là một trong số ít triết gia mà ông kính trọng.

Lev Tolstoy, sau khi đọc “Thế giới như Ý chí và Hình dung” của Schopenhauer, đã coi luân lý khổ hạnh như con đường đúng đắn cho các giai cấp thượng lưu.

Dưới đây tôi hân hạnh giới thiệu bản tôi dịch từ tiếng Anh một trong những tuyệt tác của Arthur Schopenhauer nhan đề “Luận về thiên tài” (Chương 9 cuốn “Nghệ thuật văn chương“). Với lối viết dùng nhiều minh hoạ ẩn dụ giàu hình ảnh, các trang viết này có một sức cuốn hút đặc biệt mà tôi nghĩ trước hết sẽ hấp dẫn các văn nghệ sĩ.

N.Đ.Đ. 

*

Không có sự khác nhau nào về thứ hạng, địa vị, xuất thân lại lớn như cái vực thẳm ngăn cách hằng hà sa số những người dùng cái đầu mình chỉ để phụng sự cái bụng, hay nói cách khác, coi nó như công cụ của ý chí, với một số rất ít những người hiếm hoi có can đảm để nói: Không! Cái đầu tốt hơn thế nhiều; cái đầu của tôi chỉ hoạt động phụng sự chính nó; nó phải cố hiểu cảnh tượng kỳ diệu và đổi thay của thế giới này, để rồi tái tạo lại dưới một hình thức nào đó, bằng nghệ thuật hay văn chương, phù hợp với tính cách của tôi như một cá nhân. Những người này là những người thực sự cao quý, là giới quý tộc đích thực của thế giới. Những người khác là các nông nô và số phận gắn với đất đai – glebae adscripti.[1] Tất nhiên, ở đây tôi nói tới những người không chỉ can đảm, mà còn đòi hỏi, và vì vậy có quyền, ra lệnh cho cái đầu từ bỏ việc phụng sự ý chí; với một thành quả chứng tỏ rằng sự hy sinh như vậy là xứng đáng. Trong trường hợp những người chỉ có một phần những điều này, cái vực đó không sâu rộng lắm; nhưng dù tài năng của họ nhỏ, chừng nào đó là tài năng đích thực, bao giờ cũng có một ranh giới rõ ràng giữa họ và hàng triệu người còn lại.*)

*) Thước đo đúng để điều chỉnh sự xếp hạng trí thông minh được xác định bởi mức độ trí óc nhìn nhận sự vật theo quan điểm cá thể hay theo quan điểm tiến gần tới phổ quát. Con vật chỉ nhìn thấy cá thể như một cá thể: sự lĩnh hội của nó không vượt ra ngoài giới hạn của một cá thể riêng biệt. Nhưng con người tổng quát hóa sự cá biệt; và ở đây lý trí của con người hoạt động; trí thông minh của con người càng cao thì các ý tưởng tổng quát của anh ta càng tiến gần tới điểm tại đó chúng trở thành phổ quát.

Các tác phẩm mỹ thuật, thi ca và triết học do một quốc gia tạo ra là kết quả của trí năng dư thừa tồn tại trong quốc gia đó.

Đối với người nào có thể hiểu đúng – cum granos salis[2], quan hệ giữa thiên tài với người thường có lẽ có thể được thể hiện tốt nhất như sau: thiên tài có một trí tuệ kép, một cái dành cho chính anh ta và phụng sự ý chí của anh ta; cái kia dành cho thế giới, mà anh là tấm gương phản chiếu thông qua thái độ thuần túy khách quan của anh đối với thế giới. Tác phẩm nghệ thuật, thi ca hay triết học do thiên tài tạo ra chỉ đơn giản là một kết quả, hay tinh hoa của thái độ mang tính tư duy đó, được trau dồi theo một số quy tắc kỹ thuật.

Người bình thường, ngược lại, chỉ có một trí tuệ đơn thuần, có thể được gọi là chủ quan, trái với trí tuệ khách quan của thiên tài. Dù trí tuệ chủ quan đó có sắc sảo đến mấy – và tồn tại trong nhiều mức độ hoàn hảo khác nhau – nó vẫn không bao giờ sánh được ngang tầm với trí tuệ kép của thiên tài; giống những nốt mở giọng ngực của giọng người dù có cao đến mấy vẫn khác các nốt falsetto[3] về bản chất. Những nốt này, giống như hai quãng tám (octave) cao của cây sáo và các hoạ âm (harmonic) của cây violin, được tạo bởi cột không khí chia thành hai nửa cùng dao động, giữa chúng có một nút; trong khi các nốt mở giọng ngực của người và quãng tám dưới của cây sáo được tạo bởi một cột không khí dao động toàn bộ không bị phân chia. Minh hoạ này có thể giúp người đọc hiểu sự dị thường đặc trưng đó của thiên tài, để lại dấu ấn không thể nhầm lẫn được trên các tác phẩm, thậm chí trên cả tướng mạo, của người có thiên phú đó. Trong khi đó, rõ ràng một trí tuệ kép như vậy, theo lệ thường, phải cản trở việc phụng sự ý chí; và điều này giải thích vì sao tiên tài thường kém khả năng thích nghi với cuộc sống. Và đặc điểm của thiên tài là anh ta không hề mảy may có được tính khí đúng mực thường thấy ở các trí tuệ thông thường, dù sắc sảo hay mờ nhạt.

Bộ não có lẽ giống như một vật ký sinh được nuôi dưỡng như một phần của cơ thể con người mà không đóng góp trực tiếp vào cơ cấu nội tại; rõ ràng nó ngự trên tầng cao nhất, nơi nó sống tự túc và độc lập. Cũng vậy, có thể nói một người với những năng khiếu tinh thần lớn lao trời phú, ngoài cuộc sống cá nhân giống tất cả mọi người, còn có một cuộc sống thứ hai thuần túy trí tuệ. Anh ta dành hết mình cho sự tăng trưởng, chỉnh lưu, mở rộng liên tục không chỉ của việc học đơn thuần, mà còn của kiến thức và hiểu biết đích thực có hệ thống; và dửng dưng trước số phận xô đẩy cá nhân anh, chừng nào nó không quấy rầy các hoạt động của anh. Đó chính là một cuộc sống nâng con người lên, đặt anh ta lên trên số phận và những thay đổi của nó. Luôn luôn suy nghĩ, học tập, thử nghiệm, vận dụng kiến thức của mình, con người chẳng mấy chốc nhìn nhận cuộc sống thứ hai này như một cách thức chủ đạo của sự hiện hữu, còn cuộc sống cá nhân đơn thuần của mình như một cái gì hạ đẳng, chỉ để phụng sự những mục đích ở đẳng cấp cao hơn chính nó mà thôi.

Một ví dụ về sự hiện hữu độc lập và riêng biệt này là Goethe. Trong cuộc chiến tranh tại Champagne, giữa sự ồn ào hỗn loạn của quân chiếm đóng, ông đã tiến hành các quan sát cho lý thuyết hòa sắc của ông; ngay sau khi vô số tai họa của cuộc chiến tranh này cho phép ông rút về lánh tại pháo đài Luxembourg một thời gian ngắn, ông đã viết bản thảo cuốn sách Farbenlehre (Lý thuyết màu sắc). Đó là một ví dụ mà chúng ta, muối của trái đất, phải cố gắng noi theo, bằng cách không để bất cứ điều gì quấy nhiễu chúng ta đeo đuổi cuộc sống trí óc của chúng ta, mặc cho bao giông bão trên thế gian có thể tràn vào và kích động môi trường cá nhân của chúng ta; luôn luôn nhớ rằng chúng ta là những người con, không phải của một người mẹ nô lệ, mà là của một người mẹ tự do. Như biểu tượng và phù hiệu của chúng ta, tôi đề nghị dùng một cái cây bị gió thổi dữ dội, nhưng mỗi cành vẫn trĩu nặng trái chín đỏ; với phương châm Dum convellor mitescunt, hay Conquassata sed ferax.[4]

Cuộc sống thuần túy trí tuệ đó của cá nhân có đối tác của nó trong toàn bộ nhân loại. Bởi vì ở đó cũng vậy, cuộc sống thực là cuộc sống của ý chí, xét cả về nghĩa kinh nghiệm lẫn tiên nghiệm của từ này. Cuộc sống thuần túy trí tuệ của nhân loại nằm trong những cố gắng gia tăng kiến thức nhờ các khoa học, và mong muốn hoàn hảo các môn nghệ thuật. Cả khoa học và nghệ thuật chậm rãi đi lên từ thế hệ này sang thế hệ khác, và lớn lên qua các thế kỷ, trong mỗi chủng tộc nòi giống đang vội vã góp phần của mình. Cuộc sống trí tuệ đó, như một món quà từ thượng đế, bay trên sự huyên náo và vận động của thế giới; hoặc, như đã từng như vậy, nó là hương thơm ngọt ngào thoát ra từ men – cuộc đời thực của nhân loại bị ý chí chế ngự. Sát cánh với lịch sử các quốc gia, lịch sử triết học, khoa học và nghệ thuật, cuộc sống trí tuệ đi theo con đường vô tội và không vấy máu.

Không nghi ngờ gì, sự khác nhau giữa thiên tài và người thường là một sự khác nhau về lượng, chừng nào đó là một sự khác nhau về mức độ; nhưng tôi cũng muốn coi nó như một sự khác nhau về chất nữa, vì một thực tế là các tư tưởng bình thường, mặc dù có những biến đổi cá nhân, đều có một xu hướng chắc chắn là suy nghĩ giống nhau. Vậy nên, trong những tình huống tương tự, các suy nghĩ của người ta ngay lập tức ngả theo một hướng tương tự, và chạy theo những đường như nhau; và điều này giải thích vì sao các phán xét của họ lúc nào cũng giống nhau, tuy không phải chúng dựa trên chân lý. Điều này kéo dài tới mức một số quan điểm hình thành trong nhân loại mọi thời đại, và luôn luôn được nhắc lại và tái đề xuất, trong khi các tư tưởng vĩ đại của mọi thời đại đều công khai hoặc ngấm ngầm chống lại chúng.

Một thiên tài là một người mà trong tư tưởng của anh ta thế giới hiện diện như một vật thể phản chiếu trong gương, nhưng ở mức độ trong sáng và rõ nét hơn được thấy bởi những người thường. Nhân loại có thể tìm từ thiên tài hầu hết mọi giáo huấn; bởi lẽ có thể đạt được sự thấu hiểu sâu sắc nhất trong những vấn đề quan trọng nhất, không phải là nhờ chú ý quan sát từng chi tiết, mà là nhờ nghiên cứu kỹ lưỡng tổng thể các sự vật. Và nếu tư tưởng của thiên tài đạt tới độ chín muồi, giáo huấn của anh ta sẽ được trình bày khi thì ở dạng này lúc thì ở dạng khác. Như vậy, thiên tài có thể được định nghĩa như một ý thức cực kỳ rõ ràng về sự vật nói chung, và vì thế, về cả cái chống lại chúng, tức chính bản thân anh ta.

Thế giới ngưỡng mộ một người có thiên phú như vậy, và kỳ vọng học được gì đó về cuộc đời và thực chất của nó. Nhưng một số tình huống rất thuận lợi phải kết hợp với nhau để sản sinh ra thiên tài, và đó là sự kiện cực hiếm. Nó chỉ thỉnh thoảng mới xảy ra, cứ cho là mỗi thế kỷ một lần, có một người được sinh ra với trí năng vượt quá thước đo thông thường một cách bất ngờ tới mức không liên quan gì tới ý chí. Anh ta có thể không được công nhận hoặc đánh giá đúng trong một thời gian dài do sự ngu dốt của người này hoặc sự đố kỵ của kẻ khác. Nhưng khi điều đó đã qua, nhân loại sẽ xúm xít quanh anh ta và các tác phẩm của anh, trong niềm hy vọng anh sẽ có thể soi sáng chỗ đen tối trong sự tồn tại của họ hoặc cho họ biết về nó. Thông điệp của anh ta, về mặt nào đó, là ánh sáng soi đường, còn bản thân anh ta là một đấng cao hơn, mặc dù anh ta có chiều cao chỉ vượt tiêu chuẩn chút ít.

Cũng như người thường, thiên tài chủ yếu là chính bản thân anh ta. Đây là điều cốt lõi trong bản chất của anh: một sự thực không thể tránh khỏi hoặc thay đổi, đối với những người khác anh ta có thể chỉ là vấn đề may rủi hoặc ở tầm quan trọng thứ yếu. Trong mọi trường hợp, người ta không nhận được gì từ tư tưởng của anh ngoài một sự phản chiếu, và chỉ khi nào anh ta giao du với họ nhằm thử gieo tư tưởng của mình vào đầu họ, là chỗ ở đó tư tưởng này trở thành một thứ không hơn gì một cái cây ngoại lai, ẻo lả và còi cọc.

Để có những tư tưởng độc đáo, hiếm có, và thậm chí có lẽ là bất tử, chỉ cần tự cách li toàn bộ chính mình trong vài khoảnh khắc khỏi thế giới sự vật, tới mức các vật thể và sự kiện bình thường nhất hiện ra hoàn toàn mới lạ và khác thường. Bằng cách đó bản chất thực của chúng được bộc lộ. Không thể nói đòi hỏi này là khó khăn; nó hoàn toàn không nằm trong khả năng của chúng ta, mà là địa hạt của thiên tài.

Bản thân thiên tài có thể sản sinh ra các tư tưởng độc đáo cũng hệt như người phụ nữ có thể sinh con. Các hoàn cảnh bên ngoài phải giúp thiên tài kết trái, trở thành người cha của những đứa con mình.

Tư tưởng của thiên tài giữa các tư tưởng khác cũng tựa như viên ngọc thạch lựu giữa những viên đá quý: nó phát ánh sáng của riêng nó, trong khi các viên đá khác chỉ phản chiếu ánh sáng chúng nhận được. Quan hệ giữa thiên tài và trí tuệ bình thường cũng có thể được mô tả như quan hệ giữa một vật có khả năng tích điện do ma sát với một vật dẫn điện thông thường.

Một người có học thông thường, cả đời dạy những điều mình đã được học, chặt chẽ mà nói, không được gọi là một người có thiên tài; tương tự như vật tích điện do ma sát không phải là vật dẫn điện. Không, thiên tài đối với sự có học đơn thuần cũng tựa như ca từ và âm nhạc trong một bài hát. Một học giả là một người đã từng học rất nhiều; một thiên tài là người từ anh ta chúng ta học được một cái gì đó mà thiên tài không học từ ai cả. Những tư tưởng vĩ đại, trong hàng trăm triệu người may ra mới có được một, chính là những ngọn hải đăng của nhân loại, mà thiếu chúng nhân loại chắc đã đắm chìm trong biển cả mênh mông của những sai lầm và bối rối.

Và vì thế một học giả bình thường, theo nghĩa chặt chẽ của từ này – ví dụ như một giáo sư đại học – nhìn thiên tài rất giống như chúng ta nhìn con thỏ rừng, để chén sau khi giết thịt và nấu nướng. Chừng nào nó còn sống nó chỉ có ích cho người ta nhằm bắn.

Người nào muốn trải nghiệm sự tri ân của những người cùng thời thì phải điều chỉnh bước đi theo nhịp của họ. Nhưng những điều vĩ đại không bao giờ được tạo ra bằng cách này. Và người nào muốn làm những điều vĩ đại phải hướng tầm nhìn tới hậu thế, và quyết tâm dựng nên công trình của mình cho những thế hệ sẽ tới. Không nghi ngờ gì, kết quả là anh ta sẽ rất vô danh đối với những người cùng thời, cũng tựa như một người buộc phải sống trên một hoang đảo, cố gắng cao độ để dựng nên một tượng đài tại đó, để truyền tin cho những người đi biển trong tương lai biết về sự hiện hữu của anh ta. Nếu anh ta cho đó là một số phận khắc nghiệt, hãy để anh ta tự an ủi bởi suy nghĩ rằng một người bình thường sống với những mục đích thực dụng cũng thường chịu số phận tương tự, mà không hy vọng vào bất cứ một sự đền bù nào; bởi vì anh ta có thể, trong những điều kiện thuận lợi, sống một cuộc sống vật chất, kiếm tiền, mua sắm, xây cất, chăm bón, tiêu pha, sáng lập, kiến tạo, làm đẹp bằng những cố gắng hàng ngày và với nhiệt huyết không mệt mỏi, và lúc nào cũng nghĩ mình đang làm việc cho chính mình; vậy mà rốt cuộc con cháu anh ta mới là những người hưởng mọi lợi lộc; và đôi khi thậm chí chẳng phải con cháu anh ta nữa. Người có thiên tài cũng vậy; anh ta cũng hy vọng được báo đáp ít nhất trên danh dự; nhưng rốt cuộc thấy mình chỉ lao động vì hậu thế của mình. Chắc chắn cả hai loại người này cũng đã thừa hưởng rất nhiều từ tổ tiên họ.

Sự đền bù tôi đã nói như một đặc ân của thiên tài không nằm ở chỗ nó là cái gì đối với những người khác, mà ở chỗ nó là cái gì với chính nó. Người nào là người đã từng sống, trong bất cứ ý một nghĩa thực sự nào, nhiều hơn người có những giây phút tư duy để lại tiếng vang vọng xuyên qua mọi xáo động của các thế kỷ? Rốt cuộc, có lẽ điều tốt nhất cho một thiên tài là anh ta sở hữu được chính mình mà không bị quấy nhiễu, bằng cách sống một cuộc đời hưởng cái thú mà tư duy của chính anh ta, tác phẩm của chính anh ta đem lại, và bằng cách thừa nhận thế giới chỉ như kẻ thừa kế sự hiện hữu phong phú của anh ta. Khi đó thế giới sẽ tìm ra dấu ấn sự hiện hữu của anh ta chỉ sau khi anh đã chết như tìm thấy một vết chân hóa thạch.[5]

Thiên tài vượt người thường không chỉ trong hoạt động của các năng lực cao nhất của anh ta. Một người chắc nịch, dẻo dai và nhanh nhẹn sẽ trình diễn các thao tác của mình dễ dàng một cách khác thường, thậm chí nhàn hạ, bởi anh ta cảm thấy sung sướng trong hoạt động anh ta đặc biệt thích hợp, và vì thế anh ta thường làm mà không cần một đối tượng nào hết. Hơn nữa, nếu anh là một diễn viên nhào lộn hay một vũ công, anh ta không chỉ thực hiện được những cú nhảy những người khác không thể làm được, mà anh còn bộc lộ một sự mềm dẻo và độ nhanh nhẹn hiếm có trong những bước dễ dàng mà những người khác có thể làm được, thậm chí cả trong đi bộ bình thường. Cũng vậy, người có trí tuệ vượt trội không chỉ sản sinh những tư tưởng và tác phẩm không thể có được từ những người khác; không riêng gì ở đây anh ta mới cho thấy sự vĩ đại của mình; mà do kiến thức và tư duy là phương thức hoạt động tự nhiên và dễ dàng đối với anh ta, lúc nào anh cũng thích thú với chúng, và nhờ vậy nắm bắt được các vấn đề nhỏ mọn trong tầm của các trí tuệ khác một cách dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và chính xác hơn. Vậy nên anh ta sẽ có niềm sung sướng trực tiếp và sống động trong mỗi sự gia tăng của Kiến thức, trong mỗi vấn đề được giải quyết, trong mỗi ý nghĩ dí dỏm, dù đó là của chính anh ta hay của người khác; và vì thế trí tuệ của anh ta không có bất cứ mục đích nào khác xa hơn trạng thái không ngừng hoạt động. Đó sẽ là nguồn khoái cảm vô tận; và sự buồn chán, như bóng ma ám ảnh người thường, sẽ không bao giờ có thể lai vãng tới gần anh ta.

Cũng vậy, những kiệt tác của các thiên tài trong quá khứ và đương thời chỉ hiện hữu một cách đầy đủ đối với thiên tài. Nếu một sản phẩm vĩ đại của thiên tài được đem giới thiệu với một người thường, trí tuệ hời hợt, người này sẽ chỉ thích nó ở mức như một nạn nhân của thẩm mỹ khi được mời tới cuộc khiêu vũ. Người thì tới vì hình thức, kẻ thì đọc sách trước khi đi để khỏi bị quê. Bởi La Bruyère đã rất đúng khi nói: Tất cả trí khôn trên đời đều thua kẻ không mảy may có tí trí khôn nào. Toàn bộ lĩnh vực tư duy của một người tài, hoặc một thiên tài, khi đem so với những ý nghĩ của một người thường, ngay cả khi chúng hướng về cùng một đối tượng, cũng tựa như một bức tranh xuất sắc, đầy sức sống, được đem so với một bức phác hoạ đơn sơ hay một bức phác thảo yếu bằng màu nước.

Tất cả cái đó là một phần của sự báo đáp và bồi thường cho thiên tài vì sự hiện hữu cô đơn trong một thế giới mà anh ta chẳng có gì chung và không có được những cảm thông. Song bởi lẽ kích thước là tương đối, sự thể cũng hệt như thế khi tôi nói Caius là một vĩ nhân, hoặc Caius phải sống giữa những người nhỏ bé một cách thảm hại: bởi lẽ Brobdingnag hay Lilliput[6] chỉ thay đổi phụ thuộc xuất phát điểm. Bất kể hậu thế xa xôi coi tác giả của các tác phẩm bất tử có vĩ đại, vì vậy, đáng ngưỡng mộ và đáng để làm gương đến mấy đi chăng nữa, sinh thời anh ta sẽ hiện ra nhỏ bé, thảm hại, và tẻ nhạt trong mắt những người cùng thời. Đó là ý của tôi khi nói rằng vì cái tháp kia có 300 bậc từ chân tới đỉnh tháp, nên cũng có đúng 300 bậc từ đỉnh xuống chân tháp. Vậy nên các trí tuệ vĩ đại có chịu một ân huệ từ các trị tuệ bé nhỏ; bởi lẽ chỉ nhờ có các trí tuệ bé nhỏ này mà các trí tuệ kia trở thành vĩ đại.

Thế thì, chúng ta đừng ngạc nhiên khi thấy các thiên tài nói chung thường không quần chúng và khiến người khác khó chịu. Không phải sự thiếu chan hòa của họ có lỗi. Con đường của họ đi qua thế giới giống con đường của một người đi dạo trong một buổi sáng mùa hè rực rỡ. Anh ta thích thú ngắm nhìn vẻ đẹp và sự tươi mát của thiên nhiên. Song anh ta phải dựa hoàn toàn vào điều này để giải trí; bởi lẽ anh ta không có một ai khác để chia sẻ ngoài những người nông dân đang còng lưng cuốc đất. Thói thường người có trí tuệ vĩ đại thích độc thoại hơn những cuộc đối thoại mà anh ta có thể có trên thế gian này. Nếu đôi khi anh ta hạ cố tham gia đối thoại, thì sự rỗng tuếch của nó có thể khiến anh ta quay về với độc thoại; do tính chóng quên của người đàm thoại, hoặc không để ý tới việc liệu người này có hiểu hay không, người có trí tuệ vĩ đại nói với người đàm thoại hệt như đứa trẻ đang nói chuyện với con búp bê.

Tính khiêm tốn trong một trí tuệ vĩ đại, không nghi ngờ gì, sẽ làm thế giới vừa ý; song, thật không may, đó là một contradictio in adjecto[7]Nó sẽ buộc thiên tài phải ưu tiên các tư tưởng và quan điểm, không, thậm chí cả phương pháp và phong cách, của hàng triệu người hơn là của riêng mình; đánh giá chúng cao hơn; và vì chúng rất khác nhau, thiên tài phải dung hòa các quan điểm của mình với chúng, hoặc thậm chí loại bỏ hoàn toàn các quan điểm của mình để những người khác thắng thế. Trong trường hợp đó, anh ta hoặc sẽ không sản sinh ra cái gì hết, hoặc nếu không các thành tựu của anh sẽ chỉ ở chung một mức với họ. Tác phẩm vĩ đại, đích thực, phi thường chỉ có thể được làm ra chừng nào tác giả của nó bỏ qua phương pháp, các tư tưởng, và quan điểm của những người đương thời, và lặng lẽ làm việc, bất chấp sự phê phán của họ, tự mình khinh bỉ cái mà họ tán dương. Không ai trở thành vĩ đại mà lại thiếu sự ngạo mạn kiểu này. Nếu cuộc đời và tác phẩm của anh ta lại rơi vào một thời đại không thể công nhận và đánh giá anh ta, anh ta dù sao cũng vẫn trung thực với chính mình; giống như một người du hành cao quý buộc phải nghỉ qua đêm trong một nhà trọ tồi tàn; khi bình minh đến anh ta lại vui vẻ lên đường.

Một thi sĩ hay một triết gia không có lỗi với thời đại của mình nếu nó chỉ cần cho phép anh ta làm việc mình trong cõi riêng của anh ta mà không bị phiền nhiễu. Anh ta cũng không có lỗi với số phận nếu cái cõi riêng dành cho anh cho phép anh theo đuổi thiên hướng của mình mà không phải bận tâm tới những người khác.

Bởi lẽ việc để cái đầu chỉ đơn thuần làm việc phụng sự cái bụng thực sự là số phận chung của hầu hết những ai không sống bằng sản phẩm do chính tay mình làm ra; và họ còn lâu mới bất mãn với số phận của mình. Nhưng điều đó sẽ giáng sự tuyệt vọng vào người có trí tuệ vĩ đại mà trí năng vượt ra ngoài giới hạn cần thiết cho việc phụng sự ý chí; và nếu cần, anh ta thà sống trong những hoàn cảnh eo hẹp nhất chừng nào chúng cho anh tự do dùng thời gian của mình để phát triển và áp dụng các tài năng của anh ta; nói cách khác, nếu chúng cho anh sự nhàn rỗi mà đối với anh là vô giá.

Đối với những người thường thì lại khác: đối với họ sự nhàn rỗi tự nó là vô giá trị, hoặc thực sự không phải là không chứa chất những nguy hiểm[8], như thể những người này biết rõ vậy. Các công trình kỹ thuật trong thời đại chúng ta, được thực hiện đạt tới mức hoàn hảo chưa từng có, bằng cách gia tăng và nhân lên các đồ vật xa xỉ, đã cho những người gặp vận may một sự lựa chọn giữa một bên là có nhiều  thêm sự nhàn rỗi và văn hóa, còn bên kia là có nhiều thêm sự xa xỉ và cuộc sống sung túc, nhưng phải hoạt động nhiều hơn; trung thực với tính cách của mình, họ chọn cách sau này, và thích sâm banh hơn tự do. Và họ nhất quán trong lựa chọn của họ; bởi lẽ, với họ, bất cứ cố gắng nào dùng trí tuệ mà lại không nhằm mục đích phụng sự ý chí đều là điên rồ. Họ gọi cố gắng của trí óc nhằm phục vụ chính nó là tính lập dị. Vì thế, tính kiên định với các mục đích của ý chí và của cái bụng sẽ là tính đồng tâm; và, chắc chắn trung tâm ở đây là ý chí, nòng cốt của thế giới.

Nhưng, nói chung, rất hiếm khi có một lựa chọn như vậy. Bởi lẽ, đối với tiền bạc, đại đa số người ta không dư thừa, mà chỉ có vừa đủ để đáp ứng nhu cầu của mình, và với trí tuệ cũng vậy; người ta có vừa đủ để phụng sự ý chí, tức là để tiếp tục công việc làm ăn của mình. Sau khi đã trở nên giàu có, người ta bằng lòng với việc ước ao hoặc chiều theo những khoái lạc xác thịt hoặc các trò giải trí trẻ con, chơi bài hay đánh bạc; hoặc sẽ phát ngôn đần độn nhất, hoặc sẽ chải chuốt và tôn sùng lẫn nhau. Và thật ít ỏi biết bao số người chỉ có thậm chí một chút trí năng dư thừa! Cũng như những người khác, họ cũng lấy đó làm một khoái lạc, nhưng đó là khoái lạc của trí tuệ. Hoặc là họ sẽ theo học một môn học tự do nào đó chẳng đem lại cho họ gì cả, hoặc là họ sẽ thực hành một môn nghệ thuật nào đó; và nói chung họ sẽ có khả năng quan tâm một cách khách quan tới sự vật, nên có thể đàm luận. Còn với những người khác, tốt hơn là chớ nên có quan hệ gì hết; bởi lẽ, trừ khi họ nói kết quả kinh nghiệm của chính họ hoặc kể về nghề nghiệp đặc thù của chính họ, hay chí ít cũng thuật lại cái mà họ đã học được từ một người nào khác, đàm thoại của họ cũng sẽ không đáng để nghe; và nếu có bất cứ điều gì đó được nói cho họ, hiếm khi họ lĩnh hội được hoặc hiểu đúng, và trong đại đa số trường hợp điều đó sẽ trái ngược với các quan điểm của riêng họ. Baltazar Gracian[9] mô tả họ thật ấn tượng như những người không phải là người – hombres che non lo son. Và Giordano Bruno[10] cũng nói y như vậy: Những con người sao mà khác xa những kẻ được tạo ra với hình thù giống người! Còn đoạn văn sau đây trong Kurral[11] sao mà phù hợp tuyệt vời với nhận xét đó thế: Những bình dân trông giống người nhưng tôi chưa bao giờ từng thấy có cái gì thật giống họ cả.  

Nếu người đọc xem xét phạm vi mà những ý tưởng này trùng hợp với nhau trong cách nghĩ thậm chí cách diễn đạt, và sự khác nhau lớn giữa chúng về thời điểm và dân tộc, người đọc sẽ không thể nghi ngờ chúng phản ánh cùng một sự thực của cuộc sống. Chắc chắn không chịu ảnh hưởng của những câu nói đó, khoảng 20 năm trước tôi đã thử đặt làm một hộp đựng thuốc lá hít, trên nắp hộp phải được khảm hai hạt dẻ mỏng, nếu có thể; cùng với một chiếc lá để thấy đó là hạt dẻ ngựa. Biểu tượng đó được dùng để giữ cho trí tuệ tôi luôn luôn tư duy[12]. Nếu bất kỳ ai muốn giải trí để khỏi cảm thấy cô đơn khi có một mình, hãy để tôi giới thiệu kết bạn với những con chó, mà các phẩm chất đạo đức và trí tuệ của chúng hầu hết có thể đem lại sự thích thú và thỏa mãn.

Tuy vậy chúng ta vẫn luôn phải thận trọng để khỏi thiếu công bằng. Tôi thường ngạc nhiên trước sự lanh lợi, rồi lại thỉnh thoảng ngu dốt của con chó của tôi; và tôi có những trải nghiệm tương tự với loài người. Vô số lần, phẫn nộ trước sự thiếu năng lực của họ, sự hoàn toàn thiếu sáng suốt của họ, trước thú tính của họ, tôi đã buộc phải nhắc lại lời than phiền cổ xưa rằng sự điên rồ là bà mẹ và cô bảo mẫu của loài người.

Humani generis mater nutrix que profecto stultitia est.

Nhưng có những lần khác tôi lại từng kinh ngạc rằng từ một loài như vậy lại có thể sinh ra biết bao nhiêu nghệ thuật và khoa học, với rất nhiều công dụng và vẻ đẹp, tuy rằng bao giờ cũng chỉ một số ít người sản sinh ra chúng. Song những nghệ thuật và khoa học đó vẫn bén rễ, tự thiết lập và hoàn thiện: và loài người đã trung thành bền bỉ bảo tồn Homer, Plato, Horace và những tác giả khác trong hàng ngàn năm, bằng cách sao chép và trân trọng gìn giữ các trang viết của họ, vì vậy cứu chúng khỏi sự lãng quên, bất chấp mọi xấu xa và tàn bạo từng xảy ra trên thế giới. Như vậy loài người đã chứng minh mình hiểu giá trị của những thứ này, đồng thời có thể hình thành một cách nhìn đúng đắn về những thành tựu đặc biệt và đánh giá những dấu hiệu của sự phán xét và trí thông minh. Khi nào điều này xảy ra từ đám đông, đó là một loại cảm hứng. Đôi khi một quan điểm đúng đắn cũng được hình thành bởi chính đám đông; nhưng chỉ khi nào dàn đồng ca của sự tán dương đã lớn lên đầy đủ và trọn vẹn. Khi đó giống như âm thanh của các giọng ca không được luyện: lúc nào cũng hài hòa nếu đủ nhiều.

Những người xuất hiện từ đám đông, những người được gọi là thiên tài, đơn thuần chỉ là lucida intervalla (lúc tỉnh táo giữa những cơn điên, ND) của giống người. Họ đạt được cái mà những người khác chắc không thể nào đạt được. Sự độc đáo của họ lớn đến mức không chỉ sự bất đồng của họ với người khác là rõ ràng, mà tính cá nhân của họ được biểu hiện với một sức mạnh đến nỗi các thiên tài từng tồn tại từ trước tới nay, bất cứ ai trong số họ, đều bộc lộ những nét kỳ dị trong tính cách và trí tuệ; để món quà từ các tác phẩm của anh ta là thứ mà, trong tất cả mọi người, chỉ mình anh ta là người có thể đem tặng cho thế giới. Đó là cái khiến sự so sánh của Ariosto[13] trở nên quả là đúng và xứng đáng nổi tiếng: Natura il fece e poi ruppe la stampa. Tự nhiên đúc ra thiên tài sau đó đập vỡ cái khuôn.

Nhưng khả năng con người luôn có hạn; và không ai có thể thành thiên tài vĩ đại mà lại không có mặt yếu, thậm chí, một sự hẹp hòi trí tuệ nào đó. Nói cách khác, anh ta đôi khi sẽ kém những người tài năng trung bình ở một tính năng nào đó. Đó sẽ là một tính năng, mà nếu mạnh, hẳn có thể đã cản trở việc thực thi những phẩm chất anh vượt trội. Bao giờ cũng sẽ rất khó xác định chính xác điểm yếu đó là gì, ngay cả trong một trường hợp đã cho. Nó có thể được biểu hiện một cách gián tiếp; vậy nên điểm yếu của Plato chính là chỗ Aristotle mạnh, và ngược lại; cũng vậy, Kant kém đúng ở chỗ Goethe vĩ đại.

Ngày nay, nhân loại thích tôn sùng một cái gì đó; nhưng sự tôn sùng của nhân loại nói chung hướng sai đối tượng, và cứ sai như thế cho đến khi hậu thế chỉnh cho đúng. Nhưng công chúng có học vấn sẽ được sửa cho đúng không sớm hơn sự thoái hóa lòng tôn kính thiên tài; cũng y như lòng tôn kính mà người có đức tin bày tỏ đối với các vị thánh của mình dễ dàng biến thành sự sùng bái phù phiếm các linh vật. Hàng ngàn người Thiên Chúa giáo tôn thờ các di vật của một vị thánh mà họ chẳng biết gì về cuộc đời và học thuyết của vị thánh này; và tôn giáo của hàng ngàn Phật tử nằm trong sự tôn sùng một chiếc Răng Linh Thiêng hoặc một vật gì đại loại như thế, hoặc cái lọ đựng nó, hoặc cái Bát Linh Thiêng, hoặc một vết chân hóa thạch, hoặc cái Cây Linh Thiêng mà Đức Phật đã trồng, hơn là trung thành thực thi giáo huấn cao cả của Người. Nhà của Petrarch[14] ở Acqua; nhà ngục được cho là nơi Tasso[15] từng bị giam tại Ferrara; nhà của Shakespeare ở Stratford; nhà của Goethe ở Weimar, có cả đồ đạc; túp lều cũ của Kant; chữ ký của các vĩ nhân; nhiều người há hốc miệng thích thú và kinh sợ trước những thứ này mà bản thân chưa bao giờ đọc tác phẩm của các thi hào đó. Họ không thể làm gì hơn ngoài việc chỉ há hốc miệng.

Những người thông minh trong số họ xúc động bởi mong muốn được thấy trước mắt mình những đồ vật vĩ nhân thường dùng; và do một ảo tưởng kỳ lạ, họ sản sinh ra một ý niệm nhầm lẫn rằng, cùng với những hiện vật này, họ tìm lại được chính vĩ nhân, hoặc nhất định có cái gì đó từ ông ta phải dính vào các hiện vật đó. Tương tự như họ là những người cố gắng da diết để làm quen với chủ đề trong các tác phẩm của một thi sĩ, hoặc làm sáng tỏ những hoàn cảnh riêng tư và các sự kiện trong cuộc đời ông đã làm nảy sinh những đoạn thơ nhất định. Điều này cũng như thể các khán giả trong một nhà hát chiêm ngưỡng một sân khấu với phông màn được bài trí đẹp, rồi đùng đùng kéo nhau lên sân khấu để xem hệ thống giàn đỡ các phông màn đó. Ngày nay chúng ta có quá đủ các ví dụ về những nhà nghiên cứu trầm trọng này, và họ chứng minh cho chân lý của câu châm ngôn rằng loài người quan tâm không phải tới hình thức của một tác phẩm, tức, cách giải quyết tác phẩm, mà là tới câu chuyện thực của nó. Tất cả cái mà nhân loại quan tâm là đề tài. Chỉ đọc tiểu sử của một triết gia, thay vì nghiên cứu các tư tưởng của ông, cũng giống như bỏ qua bức tranh mà chỉ chú trọng tới kiểu dáng của cái khung, tranh luận xem nó được trạm khắc đẹp hay xấu, hoặc tốn bao nhiêu tiền để mạ vàng nó.

Tất cả cái đó thật hay ho. Tuy nhiên, lại có những nhân vật thuộc một loại khác, cũng quan tâm tới những vấn đề vật chất và riêng tư, nhưng họ còn đi xa hơn nhiều và đưa mối quan tâm của họ tới điểm tuyệt đối vô tích sự. Bởi lẽ vĩ nhân đã bộc lộ cho họ những gì quý giá từ tâm can mình, và, bằng một nỗ lực tối cao từ các tài năng của mình, đã sản sinh ra những tác phẩm không chỉ góp phần làm thức tỉnh và khai sáng họ, mà còn mang lợi cho hậu thế của họ tới tận thế hệ thứ mười thứ hai mươi; bởi lẽ vĩ nhân đã tặng cho loài người một món quà không gì sánh nổi, những kẻ xỏ lá này tự cho họ cái quyền phán quyết đạo đức cá nhân của vĩ nhân, cố thử xem liệu mình có phát hiện ra tại chỗ này chỗ kia một vết nhơ của vĩ nhân để xoa dịu nỗi đau họ cảm thấy trước một trí tuệ vĩ đại đến thế, so với cảm xúc đang lấn át về sự tầm thường của chính họ.

Đó là nguồn thực sự của mọi thảo luận dông dài, diễn ra trong vô số sách vở và các bài tổng quan, về khía cạnh đạo đức trong cuộc đời của Goethe, nào là lẽ ra ông không nên cưới cô này hay cô kia trong số các cô gái ông say mê thuở thanh xuân; nào là, lại nữa, lẽ ra ông không nên làm người của công chúng, một người Đức ái quốc, xứng đáng ngồi trong Paulskirche[16], thay vì toàn tâm toàn ý phụng sự chủ mình, vân vân. Sự vô ơn trắng trợn và gièm pha hiểm độc như vậy chứng tỏ rằng những vị quan tòa tự phong này là những tên đại đểu cả về đạo đức và trí tuệ, và điều này đã nói lên tất cả.

Người có tài sẽ phấn đấu vì tiền bạc và danh vọng; nhưng không dễ chỉ ra động cơ thúc đẩy thiên tài làm nên các tác phẩm. Sự giàu sang hiếm khi là sự đền bù. Cũng không phải danh vọng hay vinh quang; chỉ có người Pháp mới có thể nói như thế. Vinh quang là thứ thật không chắc chắn, và nếu anh xem xét kỹ, nó thật chẳng có mấy giá trị. Hơn nữa, nó chẳng bao giờ tương xứng với những nỗ lực anh đã bỏ ra:

Responsura tuo nunquam est par fama labori.

Cũng không hẳn là khoái cảm; vì nó nhẹ hơn cố gắng lớn lao rất nhiều. Đúng hơn, đó là một loại bản năng đặc biệt, buộc thiên tài tạo ra một hình thức bền vững cho cái anh ta nhìn thấy và cảm thấy, mà không ý thức được bất cứ lý do nào khác. Bản năng này vận động chủ yếu do một nhu cầu tương tự như nhu cầu khiến cái cây kết trái; và không cần điều kiện bên ngoài nào trừ mảnh đất nó cắm rễ.

Xem xét kỹ hơn, dường như, đối với thiên tài, ý chí sống – tinh thần của loài người – do một cơ may hiếm có và trong một giai đoạn ngắn, đã đạt tới một tầm nhìn rõ ràng hơn, nay đang ra sức củng cố tầm nhìn đó hay, ít nhất, thành quả của nó, cho toàn bộ loài người – là loài mà cá nhân sâu xa nhất của thiên tài là một thành viên; để ánh sáng thiên tài tỏa ra quanh mình có thể xuyên thủng sự dốt nát và ngu độn trong ý thức của người thường, và tạo ra ở đó một hiệu quả tốt đẹp.

Xuất hiện theo một cách nào đó như vậy, bản năng này buộc thiên tài hoàn thành tác phẩm của mình mà không hề nghĩ tới sự đền bù, hay tán thưởng, hay cảm thông; từ bỏ mọi toan tính phúc lợi cá nhân; để biến cuộc đời mình thành một sự cô độc cần cù, và vận dụng tối đa các khả năng của mình. Như vậy anh ta nghĩ về hậu thế nhiều hơn so với những người đương thời; bởi lẽ, trong khi những người đương thời chỉ có thể dẫn anh ta đi lạc đường, hậu thế chiếm đa số nhân loại, và thời gian sẽ dần dần mang lại sự sáng suốt cho một số ít người có thể đánh giá anh ta. Trong khi đó, cũng như người nghệ sĩ mà Goethe đã mô tả, anh ta không có một nhà bảo trợ cao sang nào để trân trọng tài năng của anh, không có bạn bè nào cùng chia vui với anh:

Ein Fürst der die Talente schätzt,

Ein Freund, der sich mit mir ergötzt,

Die haben leider mir gefehlt.[17]

Tác phẩm của anh ta là một linh vật, là thành quả đích thực của cuộc đời anh, và mục đích của anh ta cất giữ nó cho một hậu thế sáng suốt hơn sẽ khiến nó trở thành tài sản của nhân loại. Một mục đích như thế vượt xa tất cả các mục đích khác, và vì nó anh ta đội một vòng gai sẽ có ngày nở rộ thành một vòng nguyệt quế. Toàn bộ năng lực của anh ta được tập trung trong cố gắng hoàn thành và củng cố tác phẩm của mình; như một con côn trùng, trong giai đoạn phát triển cuối cùng, dùng toàn bộ sức lực vì cả bầy đàn mà nó sẽ không bao giờ còn sống để nhìn thấy, nó đẻ trứng vào một nơi an toàn nào đó, là nơi những đứa con của nó một ngày nào đó sẽ nở ra và sẽ tìm thấy thức ăn, rồi sau đó nó âm thầm chết.

________________________

Chú giải của người dịch:

[1] Tiếng Latin trong nguyên văn, có nghĩa là những nô lệ thời Đế chế La Mã bị ràng buộc với đất đai. Đất đai được bán, chuyển nhượng kèm theo cả các nô lệ canh tác trên đó.

[2] Tiếng Latin trong nguyên văn, có nghĩa là bán tín bán nghi.

[3] Giọng hát người từ thấp lên cao có 4 khoảng âm như sau: vocal fry (giọng trầm), modal (giọngbình thường), falsetto (giọng giả), whistle (giọng huýt sáo). Giọng ngực (chest voice) thuộc phần thấp của giọng modal.

[4] Tiếng Latin trong nguyên văn, tức “bị xoắn vặn mà vẫn ngọt ngào hay bị rung lắc mà vẫn ra trái”.

[5] Ở đây Schopenhauer trích dẫn đoạn đầu canto IV trong “Lời tiên tri của Dante” (1819) của Byron:

Many are poets who have never penn’d

Their inspiration, and perchance the best :

They felt, and loved, and died, but would not lend

Their thoughts to meaner beings; they compressed

The god within them, and rejoin’d the stars

Unlaurell’d upon earth, but far more bless’d

Than those who are degraded by the jars

Of passion, and their frailties link’d to fame,

Conquerors of high renown, but full of scars.

Dịch nghĩa:

Biết bao thi sĩ đã không bao giờ viết

Cảm hứng của mình, và có thể là đó là cảm hứng tuyệt vời nhất:

Họ cảm xúc, yêu, và chết, nhưng không đưa các suy nghĩ của mình

Cho những kẻ kém cỏi hơn vay mượn;

Họ cô đọng Chúa Trời vào trong mình, và trở lại phía các vì sao,

Họ không được vinh danh trên trái đất, nhưng phúc của họ vượt xa hơn nhiều

Những kẻ bị thoái hóa bởi sân si

và những sự bạc nhược dính dáng tới danh vọng,

Những kẻ chinh phục tiếng tăm lừng lẫy, nhưng dính đầy nhơ nhuốc.

[6] Tên nước của những người khổng lồ và những người tí hon trong truyện “Gulliver du ký” của Jonathan Swift.

[7] Tiếng Latin, tức mâu thuẫn giữa các phần trong một lý lẽ, hay phép nghịch hợp, ví dụ: một sự yên lặng ù tai bao trùm căn phòng.

[8] Ngạn ngữ ta có câu: Nhàn cư vi bất thiện.

[9] Baltazar Gracian (1601 – 1658) – tu sĩ dòng Tên (Jesuit) người Tây Ban Nha đồng thời là văn sĩ và triết gia tiền hiện sinh (proto-existentialist) được Nietzsche và Schopenhauer đánh giá cao.

[10] Giordano Bruno (1548 – 1600) – thầy dòng Đa Minh (Dominican), triết gia, nhà toán học, và nhà chiêm tinh người Ý. Ông là người đã đề ra thuyết đa nguyên vũ trụ (cosmic pluralism), coi các hành tinh là các hệ riêng tương tự hệ mặt trời, trên đó có thể có sự sống riêng. Ông khẳng định vũ trụ là vô tận, vĩnh hằng và không một tinh tú nào có thể là trung tâm của vũ trụ cả. Vì những quan điểm này, ông đã bị Tòa án dị giáo kết án tử hình sau một phiên tòa kéo dài 7 năm, bị lột trần truồng thiêu sống vào ngày 17.02.1600 trên quảng trường Campo dei Fiori tại Rome.

[11] Kurral – thi tập về luân lý tiếng Tamil của Thiruvalluvar, thi hào và triết gia Ấn Độ sống trong khoảng t.k. 3 – t.k. 1 trCN.

[12] Hạt dẻ được người châu Âu coi là biểu tượng của dinh dưỡng, đồ ăn bổ. Nhưng hạt dẻ ngựa lại là thứ không ăn được vì chứa độc dược esculin có thể gây chết người nếu ăn sống. Tuy nhiên hạt, vỏ, và lá cây dẻ ngựa có thể được dùng làm thuốc chữa bệnh giãn tĩnh mạch, viêm tĩnh mạch, trĩ.

[13] Ludovico Ariosto (1474 – 1533) – thi sĩ Ý, người đầu tiên nghĩ ra thuật ngữ “chủ nghĩa nhân văn” (umenismo, tiếng Ý, hay humanism, tiếng Anh) để nhấn mạnh sức mạnh và tiềm năng của nhân loại hơn là vai trò phụng sự Chúa Trời, dẫn đến trào lưu nhân văn thời Phục Hưng.

[14] Francesco Petrarca tức Petrarch (1304 – 1374), Dante Alighieri (1265 – 1321) và Giovanni Boccaccio (1313 – 1375) là 3 đại thi hào Ý thời Phục Hưng. Petrarch được coi là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong nghệ thuật, văn chương và triết học.

[15] Torquato Tasso (1544 – 1595) – thi sĩ Ý, từng mắc chứng hoang tưởng từ năm 1576, sau đó bị bắt giam 7 năm (1579 -1586) tại Ferrara do xung khắc với Alfonso II d’Este, công tước xứ Ferrara. Ông qua đời vài ngày trước khi Giáo hoàng phong ông làm vua của các thi sĩ. Cho tới đầu t.k. XX Tasso là một trong những thi sĩ có tác phẩm được đọc nhiều nhất tại châu Âu.

[16] Giáo đường Saint Paul tại Frankfurt am Main, nơi hội họp của quốc hội Frankfurt năm 1848 với mục đích thống nhất nước Đức, nhưng thất bại.

[17] Tiếng Đức trong nguyên văn, có nghĩa là:

Một ông hoàng để đánh giá tài năng

Một người bạn để cùng thích thú

Thật không may, đó là những người mà tôi không có.

_____________

© Nguyễn Đình Đăng, 2015 – Người dịch giữ bản quyền bản dịch tiếng Việt. Bạn đọc có thể lưu giữ bản dịch này để sử dụng cho cá nhân mình và chia sẻ miễn phí trên internet. Mọi hình thức sử dụng khác như in ấn, sao chép lại bản dịch này, dù là một phần hay toàn bộ, để phát hành trong các ấn phẩm như sách, báo chí, luận văn, hay nhằm mục đích thương mại (kể cả tại các trang thư viện điện tử trên internet mà để đọc được hay tải xuống người đọc phải trả tiền để mở tài khoản) v.v. đều vi phạm bản quyền nếu không nhận được sự đồng ý bằng văn bản của người dịch.

Thứ Bảy, 19 tháng 2, 2022

Svante Paabo: Những manh mối về ADN của người Neanderthal trong chúng ta


Svante Paabo: Những manh mối về ADN của người Neanderthal trong chúng ta

Điều tôi muốn chia sẻ với các bạn hôm nay là những gì chúng ta có thể học hỏi được qua sự nghiên cứu về bộ thông tin di truyền của người cận đại và người tuyệt chủng. Nhưng trước khi đề cập đến vấn đề này, tôi muốn tóm tắt lại những gì các bạn đã biết: bộ thông tin di truyền của chúng ta, những vật chất di truyền, được cất trữ trong hầu hết các tế bào ở cơ thể chúng ta trong các nhiễm sắc thể dưới dạng ADN, là phân tử cấu trúc xoắn kép được biết tới. Và thông tin di truyền được chứa đựng trong chuỗi của bốn loại cơ bản viết tắt với những chữ cái A, T, C và G. Và những thông tin di truyền được lưu trữ trong hai bản sao -- mỗi bản trên một chuỗi ADN -- điều này rất quan trọng vì khi những tế bào mới được hình thành, hai chuỗi ADN này được kéo rời, và những chuỗi mới được tái tạo theo bản sao của hai chuỗi cũ trong một quá trình gần như là hoàn hảo. 


00:50

Dĩ nhiên trong tự nhiên không có gì là hoàn toàn hoàn hảo, cho nên đôi khi có những sai sót và chữ cái không phù hợp bị chèn vào. Và vì vậy chúng ta thấy được kết quả của những đột biến như vậy khi chúng ta so sánh các chuỗi ADN của tất cả chúng ta trong căn phòng này, ví dụ thế. Nếu chúng ta so sánh bộ thông tin di truyền của tôi và của các bạn, sẽ có khoảng 1200 đến 1300 chữ cái khác nhau. Và những đột biến này cứ chồng chất theo hàm số của thời gian. Cho nên nếu chúng ta xem xét thêm một loài động vật như con tinh tinh, chúng ta sẽ thấy nhiều sự khác biệt hơn nữa. Khoảng một, trong 100 chữ cái của chúng ta sẽ khác nhau với một con tinh tinh. 


01:30

Và nếu các bạn quan tâm đến lịch sử của một mẫu ADN, hay của cả bộ thông tin di truyền, các bạn có thể tái dựng lịch sử ADN với những sự khác nhau mà các bạn nhận thấy. Nói chung, chúng ta có thể miêu tả những ý tưởng về lịch sử này dưới dạng những cái cây như sau. Trong trường hợp này, nó rất đơn giản Hai trình tự ADN của loài người có chung một tổ tiên gần đây nhất. Đi xa hơn nữa về quá khứ thì có một trình tự ADN của loài người giống với loài tinh tinh. Và vì những đột biến này xảy ra xấp xỉ theo hàm số với thời gian, các bạn có thể biến đổi những sự khác biệt này để ước tính thời gian khi hai con người có chung một tổ tiên khoảng nửa triệu năm về trước, và với con tinh tinh thì khoảng năm triệu năm về trước. 


02:16

Trong những năm gần đây, với sự bùng nổ của những công nghệ thông tin đã cho phép các bạn xem xét nhiều mẫu ADN nhanh chóng. Hiện tại trong tíc tắc vài giờ đồng hồ chúng ta có thể xác định cả bộ thông tin di truyền của loài người. Dĩ nhiên trong mỗi người chúng ta có hai bộ thông tin di truyền -- một từ mẹ chúng ta và một từ cha chúng ta. Và chúng dài khoảng ba tỉ chữ cái. Và chúng ta sẽ thấy rằng trong hai bộ thông tin di truyền của tôi, hoặc chỉ một bộ của tôi mà chúng ta muốn sử dụng, sẽ có khoảng ba triệu sự khác biệt về sự xắp xếp. Và như vậy các bạn cũng có thể bắt đầu hỏi xem sự khác biệt di truyền này được phân phối trên thế giới. Và khi làm như vậy, các bạn sẽ tìm thấy một số biến thể di truyền nhất định ở châu Phi. Nếu các bạn để ý đến những nơi ngoài lục địa châu Phi, các bạn sẽ thấy có ít biến thể di truyền hơn. Đây là một điều bất ngờ, dĩ nhiên, vì số lượng người sống trong châu Phi ít hơn khoảng sáu đến tám lần số lượng người sống ngoài châu Phi. Nhưng những người sống trong châu Phi lại có nhiều dạng biến thể di truyền hơn. 


03:20

Hơn nữa gần như những dạng biến đổi di truyền ở ngoài Châu Phi đều có trình tự ADN rất tương đồng với những gì tìm thấy trong Châu Phi. Nhưng nếu các bạn chỉ xem xét trong châu Phi, thì có một thành phần trong những dạng biến đổi di truyền không hề có họ hàng nào ngoài lục địa. Vì vậy một giải thích cho hiện tượng này là một phần của những sự biến đổi di truyền ở châu Phi, không phải tất cả, đã rời khỏi lục địa và chiếm lĩnh những mảnh đất còn lại trên thế giới. Và tất cả những phương pháp để xác minh thời gian của những sự khác biệt về di truyền này đã giúp dẫn tới một điều là loài người cận đại -- những con người mà không thể phân biệt được giữa các bạn và tôi -- đã tiến hóa ở châu Phi trong thời gian rất gần đây, khoảng 100 đến 200 ngàn năm về trước. Và sau đó khoảng 100 đến 50 ngàn năm về trước, đã di cư khỏi châu Phi để định cư ở những nơi khác của thế giới. 


04:12

Vậy điều tôi thường hay nói là xét trên phương diện di truyền, chúng ta đều là người châu Phi. Chúng ta hoặc là đang sống ở châu Phi hiện tại, hoặc là đã rời khỏi lục địa này gần đây. Một hệ quả khác liên quan đến nguồn gốc này của người cận đại là những sự biến đổi di truyền thường được phân bố khắp nơi trên thế giới, ở nhiều địa điểm, và chúng thường thay đổi theo gradien, như từ tầm nhìn của một con chim. Và vì có nhiều sự biến đổi di truyền, và chúng thường có gradien khác nhau, có nghĩa là nếu chúng ta muốn xác định trình tự ADN -- một bộ thông tin di truyền của một cá nhân nào đó -- chúng ta có thể ước lượng khá chính xác người đó từ đâu đến, với điều kiện là bố mẹ hay ông bà của cá nhân này không di chuyển thường xuyên. 


05:01

Nhưng liệu như vậy có nghĩa là, như nhiều người có xu hướng nghĩ rằng, sẽ có sự khác biệt di truyền khá lớn giữa những nhóm người trên những lục địa khác nhau? Chúng ta có thể bắt đầu đưa ra những câu hỏi này. Ví dụ đang có một dự án để xác định trình tự bộ thông tin di truyền của hàng ngàn cá nhân từ những địa điểm khác nhau của thế giới. Họ đã xác định được trình tự bộ thông tin di truyền của 185 người châu Phi của hai dân cư trên lục địa này. Và họ cũng đã xác định trình tự bộ thông tin di truyền của khoảng từng đấy người ở Châu Âu và Trung Quốc. Và chúng ta bắt đầu có thể khẳng định được bao nhiêu sự biến đổi, bao nhiêu chữ cái đã thay đổi trong ít nhất một trong những bộ thông tin di truyền này. Và sự biến đổi này rất lớn: 38 triệu vị trí biến thiên. 


05:46

Nhưng chúng ta có thể hỏi: có sự khác biệt nào tuyệt đối giữa những người châu Phi và những người khác? Có lẽ sự khác biệt lớn nhất mà phần đông chúng ta có thể tưởng tượng ra là có thật. Với sự khác biệt tuyệt đối -- và tôi muốn đề cập đến sự khác biệt với tất cả những người sống ở châu Phi ở một vị trí nào đó, tất cả - 100 phần trăm - đều có một chữ cái, và những người ngoài châu Phi có một chữ cái khác. Và câu trả lời là trong số cả triệu sự khác biệt đó không có một vị trí nào như vậy cả. Điều này có thể bất ngờ. Có thể một cá nhân bị phân loại sai. Nên chúng ta có thể thả lỏng tiêu chuẩn một chút và đặt vấn đề: có bao nhiêu vị trí mà 95% người ở châu Phi chỉ có một sự biến đổi, 95 phần trăm một sự biến đổi khác, và con số là 12 vị trí. 


06:34

Đây quả thật là một điều bất ngờ. Nó có nghĩa là khi chúng ta nhìn vào một người và thấy một người từ châu Phi và một người từ châu Âu hay châu Á, ở bất cứ một vị trí nào trong bộ thông tin di truyền, chúng ta không thể ước đoán với 100 phần trăm độ chính xác là người đó sẽ mang trong mình ADN gì. Và chỉ có 12 vị trí mà chúng ta hy vọng có thể ước đoán với 95 phần trăm độ chính xác. Điều này có thể gây bất ngờ, vì dĩ nhiên, chúng ta có thể nhìn những người này và đoán một cách dễ dàng họ hay tổ tiên của họ đến từ đâu. Như vậy có nghĩa là những đặc điểm mà chúng ta thấy và dễ dàng nhận diện như: những nét đặc trưng trên khuôn mặt, màu da, cấu trúc của sợi tóc -- không được quyết định bởi một di tố nào với những tác động quá lớn nhưng được quyết định bởi nhiều dạng biến thể di truyền với tần số khác nhau ở khắp mọi nơi trên thế giới. 


07:24

Còn một vấn đề với các đặc điểm này mà chúng ta hay dễ dàng quan sát mà tôi tin là đáng quan tâm, đó là, theo nghĩa đen, chúng chính là ở bề ngoài cơ thể của chúng ta. Chúng là những gì chúng ta vừa nêu -- những nét đặc trưng trên khuôn mặt, màu da, cấu trúc của sợi tóc. Cũng có rất nhiều đặc điểm khác mà thay đổi giữa các lục địa như cách chúng ta tiêu hóa thực phẩm, hay cách bộ phận thể kháng của chúng ta chống lại vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể của chúng ta. Nhưng tất cả những bộ phận đó của cơ thể là nơi mà ta giao tiếp với môi trường một cách trực tiếp nhất. Thật dễ dàng để hình dung những bộ phận đó bị ảnh hưởng bởi sự lựa chọn của môi trường và thay đổi tần số những di tố liên quan đến những bộ phận này. Nhưng nếu chúng ta xem xét những bộ phận khác trên cơ thể, những nơi mà chúng ta không trực tiếp tiếp xúc với môi trường -- gan, thận, tim -- không có cách nào, chỉ bằng cách nhìn những cơ quan này, và biết chúng từ đâu đến. 


08:34

Một điều thú vị nữa xuất phát từ điều là con người có nguồn gốc chung gần đây nhất ở châu Phi, và đó là lúc mà những con người này xuất hiện khoảng chừng 100,000 năm về trước họ đã không phải cô độc sống trên hành tinh này. Có những dạng người khác ở xung quanh, có lẽ nổi tiếng nhất là người Neanderthal -- những dạng người tráng kiệt này, ở bên trái, được so sánh với bộ xương của người cận đại, ở bên phải -- đã tồn tại ở Tây Á cũng như châu Âu từ khoảng vài trăm ngàn năm về trước. Và câu hỏi thú vị đó là, chuyện gì đã xảy ra khi chúng gặp nhau? Chuyện gì đã xảy ra với người Neanderthal? 


09:15

Và để bắt đầu trả lời những câu hỏi như vậy, nhóm nghiên cứu của tôi - gần 25 năm nay - đã tìm những biện pháp để tách ADN từ những di tích của người Neanderthal và những động vật đã tuyệt chủng khoảng mười ngàn năm tuổi. Công trình này gặp phải nhiều vấn đề kỹ thuật trong việc tách ADN, trong việc biến đổi chúng thành dạng mà ta có thể xâu chuỗi được. Chúng tôi đã phải làm rất cẩn thận để tránh lẫn vào ADN của bản thân. Và điều này, cùng với sự kết hợp của những phương pháp xâu chuỗi các phân tử ADN một cách nhanh chóng, đã giúp chúng tôi vào năm ngoái trình bày phiên bản đầu tiên của bộ thông tin di truyền của người Neanderthal, để bất cứ ai trong quý vị cũng có thể tra khảo trên mạng về bộ di truyền của người Neanderthal, hay ít nhất là 55 phần trăm mà chúng tôi đã tái dựng lại. Và quý vị có thể so sánh nó với những bộ thông tin di truyền của người cận đại. 


10:13

Và một câu hỏi mà quý vị muốn đặt ra: Chuyện gì đã xảy ra khi chúng ta gặp nhau? Chúng ta đã có giao hợp với nhau không? Và cách để đặt vấn đề là nhìn vào những người Neanderthal đến từ miền Nam châu Âu và so sánh với những bộ thông tin di truyền của người cận đại. Và sau đó chúng tôi xem xét một cặp cá nhân, bắt đầu với 2 người châu Phi, xem xét hai bộ thông tin di truyền châu Phi, tìm những nơi mà chúng khác nhau, và trong mỗi trường hợp như vậy, đặt câu hỏi: Người Neanderthal như thế nào? Nó có tương xứng với người châu Phi này hay người châu Phi kia không? Chúng ta mong rằng sẽ không có sự khác biệt nào vì người Neanderthal chưa bao giờ sống ở châu Phi. Bộ thông tin di truyền của chúng không có lý do nào để giống hơn bộ thông tin di truyền của một người châu Phi này hơn người châu Phi kia. Và đúng là trường hợp như vậy. Theo thống kê thì không có sự khác biệt nào về sự tương xứng giữa một người Neanderthal với một người châu Phi này hay người châu Phi kia. Nhưng trường hợp này sẽ khác nếu chúng ta xem xét một cá nhân ở châu Âu và một cá nhân ở châu Phi. Tần suất trong sự tương xứng giữa người Neanderthal và người châu Âu, cao hơn là giữa người Neanderthal và người châu Phi. Trường hợp cũng tương tự như vậy nếu chúng ta xem xét một người Trung Hoa và một người châu Phi, người Neanderthal sẽ có sự tương xứng với người Trung Hoa nhiều hơn. Đây cũng là điều bất ngờ vì người Neanderthal chưa bao giờ ở Trung Quốc. 


11:32

Vì vậy mô hình mà chúng tôi đề xuất để giải thích cho hiện tượng này là khi người cận đại di cư khỏi châu Phi khoảng 100,000 năm về trước, họ đã gặp người Neanderthal. Có thể đoán chừng là họ đã gặp nhau trước tiên ở Trung Đông, nơi mà người Neanderthal đang sống lúc ấy. Nếu họ đã giao hợp ở nơi này, thì những người cận đại mà đã trở thành tổ tiên của tất cả mọi người ở ngoài châu Phi đã mang trong họ bộ thông tin di truyền với một phần Neanderthal đến những nơi còn lại trên thế giới. Để rồi hiện tại, những người sống ở ngoài châu Phi có khoảng 2.5 phần trăm ADN của họ từ người Neanderthal. 


12:09

Vậy thì khi có bộ thông tin di truyền của người Neanderthal để dùng tham khảo và những công nghệ để xem xét những di vật cổ và để trích xuất ADN, chúng ta có thể bắt đầu áp dụng chúng ở tất cả mọi nơi trên thế giới. Và nơi đầu tiên là miền Nam Siberia ở dãy núi Alta ở một điạ phương có tên gọi là Denisova, một hang động ở đây, nơi mà những nhà khảo cổ học vào năm 2008 đã tìm thấy một mảnh xưong bé tí -- đây là một bản sao của nó -- mà họ phát hiện ra đó là của một đốt ngón tay cuối cùng của ngón tay út của một con người. Và nó đã được bảo khá tốt để chúng tôi xác minh ADN của người đó, ở mức độ rộng hơn là của một người Neanderthal, và bắt đầu so sánh nó với bộ thông tin di truyền của người Neanderthal và người cận đại. Và chúng tôi thấy rằng người này có trình tự ADN với nguồn gốc giống như của người Neanderthal khoảng 640,000 năm về trước. Và đi xa hơn nữa, khoảng 800,000 năm về trước có cùng một nguồn gốc với người cận đại. 


13:17

Vậy thì cá nhân này đến từ một dân cư có cùng nguồn gốc với người Neanderthal, nhưng xa hơn nữa trong quá khứ thì lại có một lịch sử độc lập. Chúng tôi gọi nhóm người này mà chúng tôi đã mô tả lần đầu tiên từ một mảnh xương nhỏ xíu, là người Denisovans, từ nơi mà họ đã được tìm thấy đầu tiên. Vậy chúng ta có thể hỏi về người Denisovans điều giống như người Neanderthals: Họ đã có giao hợp với tổ tiên của người cận đại không? Nếu chúng ta đặt câu hỏi này và so sánh bộ thông tin di truyền của người Denisovan với mọi người trên thế giới, chúng ta sẽ bất ngờ nhận ra rằng không có bất kỳ bằng chứng nào của ADN Denisova trong những người sống gần Siberia hiện tại. Nhưng chúng ta tìm thấy ADN Denisovan ở Papua New Guinea và những hòn đảo khác ở Melanesia và Thái Bình Dương. Vậy đây có thể là vì những người Denisovan này đã sống rải rác khắp nơi hơn trong qua khứ, vì chúng tôi không nghĩ rằng tổ tiên của người Malanesia đã sống ở Siberia. 


14:16

Từ sự nghiên cứu về những bộ thông tin di truyền của người tuyệt chủng, chúng ta có thể bắt đầu hình dung được bức tranh thế giới khi người cận đại di cư khỏi châu Phi. ở phương Tây có người Neanderthal; ở phương Đông có người Denisovans và có thể những dạng người khác nữa mà chúng ta chưa tìm ra. Chúng ta không biết chắc được biên giới của những người này ở đâu, nhưng chúng ta biết rằng ở miền Nam Siberia, nơi có cả người Neanderthal và người Denisovan, ít nhất là trong một thời gian nào đó ở quá khứ. Vậy loài người cận đại đã đến từ một nơi nào đó ở châu Phi, di cư khỏi châu Phi, và đoán chừng đã đến Trung Đông. Họ đã gặp và giao hợp với người Neanderthal, tiếp tục di cư đến khắp nơi trên thế giới, và ở một nơi nào đó ở Đông Nam Á, họ đã gặp và giao hợp với người Denisovan, và tiếp tục đến những mảnh đất xung quanh Đại Tây Dương. Và rồi những dạng người trước đó biến mất, nhưng trong hiện tại một phần của họ vẫn tồn tại trong một số chúng ta -- trong những người sống ngoài châu Phi có khoảng 2.5 phần trăm ADN của họ từ người Neanderthal, và những người sống ở Melanesia có thêm khoảng 5 phần trăm từ người Denisovan. 


15:27

Vậy điều này có nghĩa là cuối cùng cũng có những sự khác biệt tuyệt đối giữa người sống ngoài châu Phi và người sống trong châu Phi ỡ chỗ những người sống ngoài châu Phi có một phần cũ của loài người tuyệt chủng trong ADN của họ, trong khi những người ở trong châu Phi không có? Thật ra tôi không nghĩ trường hợp là như vậy. Đoán chừng, người cận đại đã xuất hiện ở một nơi nào đó trong châu Phi. Họ đã rải rác khắp nơi trong lục đại này, và có những dạng người cũ hơn, già hơn đã ở đó. Và vì chúng ta giao hợp ở một điểm nào đó, Tôi chắc chắn rằng sẽ có một ngày khi chúng ta sẽ có một bộ thông tin di truyền của những dạng người cũ hơn ở trong châu Phi chúng ta sẽ tìm thấy là họ cũng đã giao hợp với loài người cận đại ban đầu trong châu Phi. 


16:09

Tóm gọn lại, chúng ta đã đúc kết được những gì từ việc nghiên cứu bộ thông tin di truyền của loài người cận đại và loài người tuyệt chủng? Chúng ta biết được rất nhiều điều, nhưng một điều quan trọng mà tôi thấy cần đề cập là chúng ta là kết quả của sự pha trộn. Chúng ta đã pha trộn với những dạng người cũ hơn, khi chúng ta gặp họ và chúng ta đã pha trộn với nhau từ khi đó. 


16:35

Cám ơn sự quan tâm của quý vị 


16:37

Vỗ tay

Thứ Sáu, 23 tháng 4, 2021

Đi Tìm Tổ Tiên Loài Người

00:03
Chúng ta là ai? Đó là một câu hỏi lớn. Chúng ta về bản chất cũng chỉ là  loài vượn có dáng đi thẳng, não phát triển và có trí thông minh siêu việt Có thể chúng ta là như vậy. Chúng ta thuộc họ Người. Và là loài Người thông minh hiện đại Và chúng ta cần phải ghi nhớ điều đó, xét về vị trí của chúng ta trong thế giới ngày nay và tương lai của chúng ta trên hành tinh này 


00:32
Chúng ta là một loài trong số khoảng 5,5 nghìn loài động vật có vú tồn tại trên trái đất ngày nay. Chỉ là phần thị nhỏ so với số lượng các loài vật thực tế từng sinh sống trên hành tinh này. Chúng ta là một trong xấp xỉ khoảng hay nói cách khác là trong ít nhất 16 loài vượn có dáng đi thẳng đã tồn tại hơn sáu triệu đến tám triệu năm. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, chúng ta là loài vượn có dáng đi thẳng duy nhất mà vẫn còn tồn tại trên trái đất ngày nay, 


01:05
Và chúng ta cũng cần phải ghi nhớ điều đó, bởi vì loài tinh tinh lùn (Vượn Bonobo) cũng rất giống con người, Gen của chúng giống đến 99% gen của chúng ta Chúng ta cũng có chung tổ tiên với một số loài vượn lớn Điều quan trọng cần phải nhớ là ta đã tiến hoá. Có thể một số người sẽ cảm thấy không thích khi nghe tôi nói như vậy, nhưng chúng ta đã tiến hoá từ tổ tiên chung với loài Khỉ đột, Tinh tinh và cả loài Vượn Bonobo Chúng ta có cùng quá khứ, cùng tương lai. Và rất quan trọng để nhớ rằng mọi loài vượn đều phải trải qua quá trình tiến hóa như chúng ta trở thành chúng ta hôm nay. Và đó là cuộc hành trình đầy tính nhân văn, nó tập trung vào ba thế hệ trước của gia đình tôi, khi chúng tôi tới phía đông châu Phi để tìm hài cốt hóa thạch của tổ tiên chúng ta và ghép chúng lại với nhau theo trình tự tiến hóa. 


02:14
Và đây là cách chúng tôi tìm nó. Một nhóm nam nữ tình nguyện đã đi khắp các vùng của châu Phi rất chậm, tìm kiếm những mảnh vụn của xương, hóa thạch có thể nằm trên mặt đất. Và đó là một ví dụ cho thấy chúng tôi sẽ làm gì khi chúng tôi đi dọc các vùng địa hình miền bắc Kenya, tìm kiếm hóa thạch. Tôi nghĩ rằng nhiều bạn ở đây có thể nhìn thấy các hóa thạch trong tấm ảnh này, nhưng nếu bạn nhìn kĩ hơn, đây là xương hàm, xương hàm dưới của một con vượn đứng thẳng 4,1 triệu tuổi khi tìm thấy nó ở bờ tây hồ Turkana. (cười) Nó cực kì tốn thời gian, tốn công sức và sẽ liên quan tới rất nhiều người khi bắt đầu gắn kết quá khứ của chúng tôi lại. Chúng tôi vẫn chưa có được bức tranh hoàn chỉnh của nó. 


03:10
Khi tìm được một hóa thạch, chúng tôi đánh dấu nó. Ngày nay, chúng tôi đã có công nghệ hiện đại hơn: GPS. Chúng tôi đánh dấu nó bằng GPS và chụp ảnh lại mẫu vật để chúng tôi có thể đặt lại đúng vị trí của nó trên mặt đất khi chúng tôi tìm thấy nó. Và chúng tôi có thể nhập tất cả thông tin này vào túi GIS cỡ lớn. Khi chúng tôi tìm thấy cái gì đó cực kì quan trọng, như xương của tổ tiên, chúng tôi bắt đầu khai quật nó cực kì cẩn thận và chậm rãi, sử dụng búa nha khoa và cọ đầu nhỏ. Và tất cả những trầm tích này  sau đó sẽ được quét bằng các máy này và khi chúng tôi quét lại lần nữa thật kĩ càng tìm kiếm những mảnh xương vụn nhỏ, sau đó chúng sẽ được rửa sạch. 


03:54
Và những thứ này thật thú vị. Chúng thường là duy nhất hoặc là lần đầu tiên con người bắt gặp những thứ còn lại. Và đây là một khoảnh khắc rất đặc biệt, khi tôi và mẹ tôi đang đào một vài thứ còn sót lại của tổ tiên loài người. Và đây là một trong những chuyện đặc biệt  có thể được làm cùng với mẹ. (cười) Ít người có thể nói được điều này. 


04:23
Nhưng bây giờ, hãy cùng tôi quay trở lại châu Phi, hai triệu năm trước. Tôi muốn chỉ ra ở chỗ này, nếu bạn đang nhìn bản đồ của châu Phi, nó nhìn thực sự giống một hộp sọ của vượn người. Bây giờ chúng ta sẽ đi tới phía đông châu Phi và thung lũng Rift. Nó chủ yếu chạy lên từ Vịnh Aden hoặc chạy xuống hồ Malawi. Và Thung lũng Rift là một chỗ trũng. Nó là lưu vực của những con sông đổ từ cao nguyên, mang theo trầm tích, bảo quản xương của các loài từng sống ở đây. 


05:07
Nếu bạn muốn trở thành một hóa thạch, bạn phải cần một nơi để chết, nơi mà xương của bạn được nhanh chóng chôn vùi. Sau đó bạn hy vọng mặt đất sẽ di chuyển để lôi các xương này trở lại bề mặt. Và sau đó bạn mong rằng một trong số chúng tôi sẽ đi xung quanh và tìm thấy một vài mảnh nhỏ của bạn. (cười) OK, nó hoàn toàn ngạc nhiên khi chúng tôi biết nhiều thứ về tổ tiên chúng ta ngày nay, bởi vì nó cực kì khó khăn, thứ nhất: khó khăn cho những thứ này được vùi lấp và thứ hai: khó khăn trong việc đem chúng ngược lại bề mặt. Và chúng tôi đã dành 50 năm chỉ để tìm kiếm những gì còn sót lại này và bắt đầu ghép chúng thành câu chuyện tiến hóa. 


05:47
Bây giờ, hãy ghé qua Hồ Turkana, một trong những hồ là lưu vực của phía bắc nước chúng ta, Kenya. Và nếu bạn nhìn về phía bắc, chỗ này, có một con sông lớn chảy vào hồ mang theo trầm tích và chôn vùi những mảnh còn sót lại của những loài thú từng sống nơi đây. Hóa thạch di chuyển lên xuống dọc chiều dài lưu vực hồ, rộng cỡ 20 000 mét vuông. Đó là một thành công lớn mà chúng tôi đã làm được. Hai triệu năm trước tại Hồ Turkana, Homo erectus, một trong những tổ tiên loài người, thực sự đã sống ở khu vực này. Bạn có thể thấy một vài loại hóa thạch chính mà chúng tôi đang tìm kiếm ở phía bắc. Nhưng về cơ bản, hai triệu năm trước, Homo erectus, góc phải xa nhất, sống bên cạnh ba tổ tiên khác của loài người. Và đây là hộp sọ của Homo erectus mà tôi vừa lấy khỏi kệ. (cười) 


06:51
Nhưng nó không nói lên được chuyện  đây là loài duy nhất tồn tại trên Trái Đất lúc ấy. Thực tế, nếu bạn quay ngược lại lúc đó, có rất nhiều loài vượn người hoặc tổ tiên loài người cùng tồn tại ngay tại thời điểm đó. Những thứ này tới từ đâu? Đó là câu hỏi chúng tôi vẫn còn đang tìm câu trả lời. và quan trọng là nhận ra được sự đa dạng của các loài khác nhau, và tổ tiên của chúng ta cũng không ngoại lệ. Đây là một vài mẫu hóa thạch đã được dựng lại từ những mẫu lấy từ Hồ Turkana. 


07:31
Nhưng tôi rất may mắn khi được nuôi lớn ở Kenya, cùng cha mẹ tới Hồ Turkana để tìm những gì còn sót lại của loài người. Và chúng tôi có thể đào lên, khi chúng tôi đủ già, những hóa thạch kiểu này, một con cá sấu mũi kiếm. Chúng tôi đào được những con rùa khổng lồ, những con voi và nhiều thứ kiểu vậy. Nhưng khi tôi 12 tuổi, như trong tấm hình này, một cuộc thám hiểm thú vị ở phía tây nơi họ tìm được bộ xương của loài Homo erectus này. 


08:05
Tôi có thể có liên quan với bộ xương này vì anh ta chết khi tầm tuổi tôi. Và tôi tưởng tượng anh ấy là một người da màu cao lớn. Những người anh em này chắc chắn có khả năng chạy cự li dài, theo đuổi con mồi, có thể cũng đổ mồ hôi như chúng ta. Anh ấy đã có thể sử dụng các hòn đá  một cách thành thục như các công cụ. Và riêng anh ta, người mà tôi đang cầm ở đây có một cái lưng không tốt, có thể đã chấn thương khi còn nhỏ. Anh ta đã bị vẹo cột sống, do đó anh ta được coi chừng rất kĩ bởi những con cái khác, có thể nhỏ hơn, những thành viên của gia đình, để sống tới năm 12 tuổi. Bất hạnh cho anh ta, anh ấy rơi vào một đầm lầy và không thể thoát ra được. Về cơ bản, xương của anh ta được chôn vùi nhanh chóng và được bảo quản gần như toàn vẹn. 


09:05
Và anh ấy nằm đó tới 1.6 triệu năm sau khi nhà săn hóa thạch nổi tiếng Kamoya Kimeu đi dọc một sườn đồi nhỏ và tìm thấy một mảnh hộp sọ của anh ta trên mặt đất giữa các viên sỏi nhỏ, xác nhận nó thuộc về loài vượn người. Nó là mảnh nhỏ trên đỉnh ở đây. Và một cuộc khai quật được bắt đầu ngay lập tức, càng nhiều những mảnh vụn của hộp sọ bắt đầu được chiết tách ra khỏi các lớp trầm tích. Và có một câu chuyện vui về việc này: những mảnh sọ nằm rất gần những rễ cây và sau đó những cái cây này lớn lên, nhưng nó tìm ra được hộp sọ này có nước từ sườn đồi và nó quyết định mọc rễ trong và xung quanh hộp sọ, giữ hộp sọ lại và ngăn cản nó khỏi bị rửa trôi khỏi đồi dốc. Chúng tôi bắt đầu tìm xương các chi, chúng tôi tìm thấy xương ngón tay, xương chậu, đốt sống, xương sườn, xương đòn, những thứ chưa bao giờ thấy ở loài Homo erectus. Nó quả thật là điều tuyệt vời. Anh ta có cơ thể rất giống với chúng ta, và anh ta đang ở mức trở thành con người. 


10:26
Sau khoảng thời gian ngắn, những thành viên khác của loài anh ấy bắt đầu di chuyển về phía bắc, ra khỏi châu Phi, và bạn bắt đầu thấy hóa thạch Homo erectus ở Georgia, Trung Quốc và một vài nơi ở Indonesia. Vậy là Homo erectus là tổ tiên loài người đầu tiên di cư khỏi châu Phi và bắt đầu lan tỏa khắp địa cầu. Một vài kết quả lí thú khác, một lần nữa, như tôi đã đề cập, từ Dmanisi, ở Cộng hòa Georgia. Nhưng những khám phú thú vị được công bố gần đây từ đảo Flores, Indonesia khi một nhóm những tổ tiên loài người này bị cô lập, và trở thành người lùn, cỡ một mét chiều cao. Nhưng họ chỉ sống cỡ 18000 năm trước, và nó là sự bất thường cần được để ý tới. 


11:18
Chỉ cần đặt vấn đề về thế hệ, người ta rất khó suy nghĩ về thời gian, Homo erectus rời khỏi châu Phi 90 000 thế hệ về trước. Chúng ta tiến hóa từ cội nguồn ở châu Phi. Một lần nữa, khoảng 20 000 năm trước, chúng ta đã đủ lông đủ cánh. Và chúng ta chỉ mới rời khỏi châu Phi khoảng 70 000 năm. Cho tới khi 30 000 năm trước, có ít nhất ba loài vượn người đứng thẳng sống trên Trái Đất. 


11:47
Câu hỏi hiện nay là, chúng ta là ai? Chúng ta chắc chắn là một giống loài ô uế, lãng phí, hung hăng với một ít tính tốt trong đó, có lẽ vậy. (cười) Hầu hết các bộ phận, chúng ta không hề cảm thấy dễ chịu một chút nào. Chúng ta có bộ não lớn hơn loài vượn tổ tiên. Đây là một kiểu thích nghi tiến hóa tốt hay nó sẽ làm chúng ta thành loài vượn người có cuộc sống ngắn nhất trên Trái Đất? 


12:19
Và điều gì đã làm chúng ta trở thành người như bây giờ? Tôi nghĩ đó là do trí thông minh tập thể. Đó là khả năng viết chữ, ngôn ngữ và sự tỉnh táo. Từ buổi đầu sơ khai, với những công cụ bằng đá hết sức thô sơ, chúng ta bây giờ đã có được những công cụ rất tiên tiến, và cách sử dụng chúng đã đạt được mức chưa từng có: chúng ta có xe chạy trên sao Hỏa, chúng ta xây dựng bản đồ gene người, và thậm chí nhân bản vô tính được, nhờ Craig Venter. 


12:52
Và chúng ta xoay sở để giao tiếp với mọi người trên toàn thế giới, từ những nơi phi thường. Kể cả trong những khu khai quật ở phía bắc Kenya, chúng tôi có thể nói chuyện với người khác  về việc chúng tôi đang làm. Như Al Gore đã từng nhắn nhủ rằng chúng ta đã chạm tới con số phi thường của số người trên hành tinh này. Tổ tiên loài người chỉ thực sự tồn tại trên Trái Đất nếu bạn nhìn vào các ghi chép hóa thạch khoảng trung bình một triệu năm. Chúng ta chỉ mới sống được khoảng 20 000 năm nhưng chúng ta đã đạt tới dân số hơn sáu tỉ rưỡi người. 


13:32
Năm ngoái, dân số tăng thêm 80 triệu người. Ý tôi là, đây là một con số phi thường. Bạn có thể thấy ở đây, một lần nữa, lấy từ sách của Al Gore. Nhưng chuyện đã xảy ra là công nghệ của chúng ta đã loại bỏ sự kiểm soát và giữ cân bằng trên sự tăng trưởng dân số. Chúng ta phải kiểm soát được dân số, và tôi nghĩ nó là một việc cần thiết phải làm ngày nay. Nhưng chúng ta phải kiểm soát được nó, bởi vì chúng ta khó có thể giữ được nó như một loài. 


14:03
Cha tôi đã nói một cách chắc chắn rằng "Chúng ta chắc chắn là loài động vật duy nhất có thể đưa ra những lựa chọn tỉnh táo có thể ảnh hưởng tới sự sống còn của giống loài." Chúng ta có thể giữ được điều đó không? Rất quan trọng để nhớ rằng chúng ta đều tiến hóa tại châu Phi. Chúng ta đều có một phần gốc Phi. Chúng ta chia sẻ cùng một quá khứ và chia sẻ chung một tương lai. Nói về mặt tiến hóa, chúng ta chỉ là một đốm sáng. Chúng ta đang ngồi trên rìa của vách đá và chúng ta có công cụ lẫn công nghệ trong tay để truyền đạt những gì cần làm để giữ điều đó chung với nhau. Chúng ta có thể nói với từng con người ngoài kia, nếu chúng ta muốn. Nhưng liệu chúng ta có làm như thế, hay để thiên nhiên làm công việc của nó? 


15:00
Để kết thúc bằng một lưu ý rất bổ ích, tôi nghĩ nói về tiến hóa, sau tất cả, nó có lẽ là một điều khá tốt. Tôi sẽ để nó ở đó, Cảm ơn các bạn rất nhiều. (vỗ tay) 

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2020

Donald Trump & Đảng Dân Chủ


Cuộc chiến giữa Donald Trump và đảng Dân chủ đang diễn ra.-Hy vọng kết quả cuối cùng sẽ như thế này:

Donald Trump sẽ dành chiến thắng và đắc cử tổng thống thêm một nhiệm kỳ nữa rồi sau đó Donald Trump sẽ đưa tập đoàn tội phạm,gồm Barack Obama.-Hillary Clinton.-Joe Biden.-Kamala Harris.-Nancy Pelosi vào ngồi bóc lịch trong tù và tiếp đến sẽ là các CEO của những tập đoàn truyền thông &công nghệ đã giúp đỡ cũng như che giấu cho sự gian lận của đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử này cũng sẽ bị bắt.-Đến lúc đó thì Đầm Lầy Nước Mỹ sẽ được hút cạn!..

Còn trong trường hợp xấu.-Nếu như Joe Biden trúng cử tổng thống Mỹ thì điều vô cùng tồi tệ sẽ sảy ra !.Lúc đó con rối Joe Biden với truyền thống tham ô và ăn cắp của lão ta,cũng như của gia đình lão.-Vì lợi ích cá nhân lão Joe Biden sẽ đi đêm với cộng sản Trung Quốc và để mặc cho cộng sản Trung Quốc xâm chiếm toàn bộ biển đông,rồi Trung Quốc sẽ mưa làm gió tại Châu Á!..Hiện tại ngoài Mỹ ra  thì cũng không có nước nào đủ sức đối đầu với Trung Quốc tại biển đông cả..-Nói tóm lại số phận của Việt nam và các nước đông nam Á sẽ phụ thuộc rất nhiều vào việc Donald Trump có tiếp tục làm tổng thống nữa hay không..-Thậm chí rất có thể Đài Loan cũng sẽ sát nhập vào Trung Quốc nếu Joe Biden trở thành tổng thống Mỹ

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2020

Nhân Văn Giai Phẩm

Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật  
                                      
                          Chương 16
                         
Nguyễn Tất Thành
       
Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật.

Chỗ nào ông muốn viết hoặc chỉ thị cho viết, chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ ràng. Và ông không hề ngần ngại nhận mình là tác giả những công trình không phải của ông. Trong phạm vi khảo luận này, chúng tôi chỉ chú ý đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến 1923. Thời gian này, ông tự nhận là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xây dựng nên tên tuổi và huyền thoại Hồ Chí Minh.

Thật vậy, về Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tường Bách, em Nhất Linh Nguyễn Tường Tam viết: "Ngày 2/9 chính phủ Hồ Chí Minh làm lễ tuyên thệ độc lập ở Quảng trường Ba Đình. Tôi đã biết từ lâu Hồ Chí Minh ngày nay là Nguyễn Ái Quốc mà chúng tôi vẫn khâm phục như một nhân vật thần kỳ thời thiếu niên. Éo le là vận mệnh đã làm cho tôi đứng vào hàng ngũ đối lập"[1].

Đặng Thai Mai cũng viết tương tự: "Chúng tôi được đọc báo Nhân Đạo và những tờ báo Bác Hồ viết ở Pháp như tờ Le Paria. Chúng tôi nhận những sách báo đó qua cụ Ngô Đức Kế, lúc đó đang làm báo Hữu Thanh (...) Kể từ những năm 1925 trở đi, chúng tôi hiểu được Liên Xô hơn vì được đọc các báo Việt Nam Hồn, Le Paria, L'Humanité, do Thủy thủ Pháp, đảng viên đảng Cộng Sản đưa vào Sài Gòn"[2].

 

● Một tiểu sử đầy nghi vấn

Cuối lá thư đề Marseille ngày 15/9/1911, gửi Tổng thống Pháp, xin học trường Thuộc địa, ghi sinh năm 1892 ở Vinh. Một mật báo ghi Nguyễn sinh ngày 24/1/1892. Một mật báo khác ghi 15/1/1894. Hộ chiếu vào Nga năm 1923, theo Hồng Hà, ghi 15/1/1895. Còn ngày sinh chính thức 19/5/1890, có từ năm 1946, theo Nguyễn Thế Anh, có thể là ngày kỷ niệm thành lập Mặt Trận Việt Minh, 19/5/1941[3]. Daniel Hémery cho rằng chọn năm sinh chính thức 1890 -thay vì 1895 hay 1898- chỉ có mục đích phục vụ huyền thoại: 1890 tính đến 1945 là đã ngoại ngũ tuần, đáng được gọi bằng Bác. Năm Nguyễn Tất Thành từ Anh sang Pháp cũng thế, theo Hémery, Thành đến Pháp năm 1919, nhưng lại chọn năm 1917, vì năm này có những mốc lịch sử gắn liền: những cuộc binh biến trong quân đội Pháp và cuộc cách mạng tháng 10 của Nga[4].

Tiểu sử chính thức của Hồ Chí Minh được rút ra từ ba cuốn hồi ký Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch của Trần Dân Tiên, được coi là chính Hồ Chí Minh viết. Cuối sách này đề (viết xong) Mùa xuân năm 1948. Bản gốc, chữ Hán được in ở Thượng Hải năm 1949, dịch ra quốc ngữ và in ở Hà Nội lần đầu năm 1958. Cuốn thứ nhì: Vừa đi đường vừa kể chuyện của T. Lan[5], một bút hiệu khác của Hồ Chí Minh, in năm 1963. Và Cuốn thứ ba: Thời thanh niên của Bác Hồ, của Hồng Hà, nhà xuất bản Thanh Niên in năm 1976.

Viết về thời gian ở Pháp, cuốn Trần Dân Tiên có một số đoạn tương đối thành thực hơn cả. Cuốn Hồng Hà sửa lại, đầy đủ và hợp lý hơn, nhưng nhiều đoạn thêm bớt khá lộ liễu.

Lữ Phương nhận xét: "Cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" của Trần Dân Tiên, viết từ năm 1948, đến nay đã in đi in lại đã có cả chục lần rồi. Cuốn sách này đã đóng vai trò hết sức đặc biệt đối với giới nghiên cứu, giảng dạy về Hồ Chí Minh trong chế độ cộng sản Việt Nam từ đó đến nay: nó được mọi người coi như là tác phẩm do chính Hồ Chí Minh viết về mình dưới bút danh Trần Dân Tiên, một tài liệu được tác giả giới thiệu như một "tiểu sử trung thành, đúng đắn, sinh động, không thêu dệt, không bày đặt". Cuốn sách vì thế đã thành một nguồn tham khảo căn bản, quan trọng nhất cho tất cả những công trình biên khảo về Hồ Chí Minh: các sự kiện về cuộc đời hoạt động của ông đã được đương nhiên coi là chính xác, không thể nói khác, nói ngược lại"[6].

Dựa vào sự kiện bà Lê Thị Kinh đã gặp ông Vũ Kỳ và kể lại rằng: "Chiều ngày 2 tháng 3 năm 1993, tôi đã được gặp ông Vũ Kỳ là thư ký riêng của Bác từ Cách Mạng Tháng Tám đến ngày Bác qua đời và đã cùng một số người quanh Bác là đồng tác giả cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" với bút danh Trần Dân Tiên", Lữ Phương đưa ra lập luận sau đây: "Không có gì ngăn cản người ta tin rằng cái "tiểu sử" dưới hình thức "truyện" ấy được chính Vũ Kỳ và những người cộng sự viết ra và ký là Trần Dân Tiên. Nhưng như vậy thì lại gặp điều khó khăn phải giải thích tại sao cuốn sách tầm thường của một tác giả vô danh là Trần Dân Tiên ấy lại có thể trở thành một thứ tài liệu tham khảo vào bậc nhất về Hồ Chí Minh như đã xẩy ra, đặc biệt trong giới nghiên cứu, giảng dạy? Sự quan trọng ấy không thể nào có được nếu những gì đã viết về ông Hồ trong cuốn sách ấy không được chính ông xét duyệt (Vũ Kỳ là thư ký riêng của ông) và một cách nào đó đã làm cho người ta hiểu rằng chính ông đã muốn phổ biến cái "tiểu sử" có nội dung như vậy. Cuốn sách, do đó, dù có do Vũ Kỳ lấy tài liệu từ Hồ Chí Minh để viết hoặc do chính Hồ Chí Minh trực tiếp viết (hay đọc cho Vũ Kỳ viết), thiết tưởng ý nghiã cũng đều như nhau: Sự xuất hiện của nó là "cái cần thiết" cho nhu cầu cách mạng của bản thân Hồ Chí Minh sau 1945"[7].

Tại sao lại cần thiết cho nhu cầu cách mạng của bản thân Hồ Chí Minh, Lữ Phương giải thích: "Sau 1945, Khi Nguyễn Tất Thành đã trở thành chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà với cái tên mới là Hồ Chí Minh (dân chúng chưa biết rõ lắm về lai lịch của cái tên này), 1948, đang ở chiến khu Việt Bắc kháng chiến chống Pháp: phải tạo cho mình hình ảnh một "đấng bậc trưởng thượng" kiểu Châu Á có uy tín vượt trội (...) một con người trong sạch, giản dị, hoà mình vào quần chúng, được bạn bè khắp hoàn vũ mến yêu giúp đỡ còn đồng bào trong nước thì đặt hình lãnh tụ lên bàn thờ và tôn xưng là "Cha già của dân tộc" v.v... Cuốn "tiểu sử" viết về Hồ Chí Minh của Trần Dân Tiên đã biểu lộ rất rõ cái nhu cầu năm 1948 mà Hồ Chí Minh và cuộc cách mạng của ông đang muốn tạo ra cho phong trào yêu nước cộng sản trước tình hình mới - một lãnh tụ tuyệt vời và chỉ có lãnh tụ đó mới là tuyệt vời thôi!"[8]

Lập luận của Lữ Phương rất sắc bén. Duy có một điểm: bản gốc cuốn "tiểu sử" là chữ Hán, in năm 1949, tại Thượng Hải, chắc chắn phải do Hồ Chí Minh viết - trừ khi Vũ Kỳ biết chữ Hán, nhưng điều này khó mường tượng: ông Hồ đọc cho Vũ Kỳ bằng tiếng Việt rồi Vũ Kỳ dịch sang tiếng Tàu! Ông Hồ viết chữ Hán vì ông giỏi chữ Hán hơn quốc ngữ. Nhưng bản dịch quốc ngữ in năm 1958 tại Hà Nội, chắc phải do Vũ Kỳ và những người "quanh Bác" thực hiện, vì trình độ quốc ngữ của "Bác" không cao -xin xem bài Việt Nam Yêu Cầu Ca- không thể viết được cuốn "Những mẩu chuyện..." Lữ Phương có lý khi ông cho rằng Vũ Kỳ và những người "quanh Bác" đã góp phần trong bản quốc ngữ. So với bản chính Hán văn, sự khác biệt ra sao? Phải hỏi những nhà Hán học. Nhưng chắc bản Hán văn gần với lời ông Hồ hơn cả.

Vậy cuộc đời "thật" của Nguyễn Tất Thành từ ngày rời nước năm 1911 đến năm 1923, đi Nga, như thế nào?

Từ 1911 đến 1923, cuộc đời Nguyễn Tất Thành, có thể đã diễn ra như sau:

Ngày 4/6/1911, Nguyễn Tất Thành rời Sài Gòn trên tàu L'Amiral Latouche-Tréville, thuộc Compagnies des Chargeurs Réunis - Công ty vận tải liên kết, chạy đường Hải Phòng - Dunkerque, làm phụ bếp, lấy tên Văn Ba. Trên tàu gặp ông Bùi Quang Chiêu và được 2 người lính trẻ, giải ngũ, hồi hương, dạy đọc và viết tiếng Pháp. Ông Chiêu nói với Tất Thành: "Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề này đi. Con nên chọn một nghề khác, danh giá hơn..."[9].

Sổ hành trình ghi: Ngày 5/6/1911 rời Sài Gòn; 6/7 đến Marseille; 15/7 tới Le Havre; 26/8/1911 đến Dunkerque[10]. Theo Trần Dân Tiên, tàu đến Le Havre để sửa chữa. Nhân viên được chuyển sang một chiếc tàu khác để trở về Đông Dương, nhưng anh Ba không muốn về, anh ở lại Le Havre, làm vườn cho ông chủ tàu tại Sainte-Adresse, ngoại ô Le Havre, trong khoảng một tháng, rồi lại tiếp tục lên tàu đi Phi Châu. Tại nhà ông chủ, anh Ba học tiếng Pháp với cô sen[11].

 Lê Thị Kinh viết: "Từ Dunkerque, tàu quay lại Sài Gòn và trên sổ lương của tàu có ghi: "Văn Ba đã lĩnh lương tại Sài Gòn ngày 16/10/1911". Ngày 31/10/1911 Tất Thành đã gửi một thư cho cha. Thư lọt vài tay mật thám và được chuyển cho khâm sứ Trung Kỳ"[12].

 Vậy Trần Dân Tiên giấu việc trở lại Việt Nam, bịa ra chuyện đi vòng châu Phi để làm gì? Nếu không phải là để chứng minh muốn "đi xem các nước" để tính chuyện "giúp đồng bào" ngay từ 1911? Tất Thành lúc đó chưa thể bị "mật thám" theo dõi, vì chưa có thành tích gì. Thành viết thư thẳng đến Tòa Khâm, nhờ khâm sứ chuyển tiền cho cha, đồng thời viết thư cho anh là ông cả Đạt, đang làm việc tại Tòa Khâm - Sẽ nói rõ hơn ở dưới. Trong các thư Tất Thành gửi cho cha hay cho toàn quyền, năm 1911-1912, còn ký cả tên Tây: Paul Tatthanh hay Paul Thành... nữa, vậy khó có thể nói đến việc đi Tây "tìm đường cứu nước".

 

● Đơn xin học trường Thuộc Địa

Lá thư đề Marseille ngày 15/9/1911, gửi Tổng Thống Pháp xin vào nội trú trường Thuộc Địa được Henri de Turenne[13] phát hiện và công bố trên đài truyền hình Pháp trong chương trình về Hồ Chí Minh, tháng 1/1982. Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh chụp được hai bức thư viết tay giống hệt nhau: một gửi Tổng Thống Pháp và một gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa[14] cùng về việc xin học.

Daniel Hémery, cho rằng sự lựa chọn này là do Phan Châu Trinh dẫn dắt. Lê Thị Kinh, có lẽ do ảnh hưởng Hémery, đưa ra giả thuyết: Khi ở Sainte-Adresse: "Chắc chắn Người đã tranh thủ đến Paris gặp bác Phan, làm quen với những người quanh bác, và đặc biệt để bàn bạc với bác về hướng sống và học tập... Và có thể không phải chỉ đến một lần". Và bà tiếp tục cho rằng nhân dịp này "Người" gặp Bùi Kỷ, đang học trường Thuộc Địa và Bùi Kỷ đã gợi ý và viết đơn giùm[15].

Lập luận này không vững vì nhiều lẽ: Tất Thành chỉ ở Le Havre từ 15/7/1911 đến 26/8 đã theo tầu lên Dunkerque. Phan Châu Trinh tới Paris ngày 27/4/1911, lúc đó chưa quen Phan Văn Trường -chỉ gặp ông Trường tháng 1/1912- và chưa chắc đã biết Bùi Kỷ ở đâu. Việc thông tin thời ấy không dễ dàng, Tất Thành vừa từ Sài Gòn sang, tiếng Pháp chưa biết, lạ nước lạ cái, mà cũng chỉ ở Le Havre hơn một tháng, làm sao đã tìm được địa chỉ của Phan Châu Trinh? Mà dù có địa chỉ cũng chưa chắc đã dám xin chủ nghỉ việc để về Paris nhiều lần thăm bác, vì thời ấy di chuyển không dễ dàng như bây giờ. Hơn nữa, cả Trần Dân Tiên, Bùi Kỷ và Phan Châu Trinh đều không nói đến những cuộc gặp gỡ này. Vậy giả thiết "Bác" đã gặp Bùi Kỷ và Phan Văn Trường tại nhà Phan Châu Trinh không thể đứng vững.

 Ngoài ra, hầu hết các tư liệu đều chứng minh: Năm 1911 Tất Thành chưa có ý đồ hoạt động chính trị, chỉ muốn giúp cha và tiến thân. Sau cùng, nếu Bùi Kỷ viết đơn giùm Tất Thành, thì cũng không gửi đơn xin học cho tổng thống và bộ trưởng, mà viết thẳng cho hiệu trưởng. Vậy người viết đơn giùm Tất Thành phải là người không có trình độ cao lắm, làm việc cùng với Tất Thành ở Công Ty Vận Tải tại Marseille, Le Havre hay Dunkerque, hoặc một sự quen biết nào khác. Ngày 21/10/1911, ông hiệu trưởng trường Thuộc Địa viết thư trả lời từ chối, chỉ nhận những người đã học và được toàn quyền tuyển chọn tại Đông Dương[16].

Lữ Phương dựa theo tài liệu của Hémery, thuật lại những sự kiện: khi tàu ghé Sài Gòn giữa tháng 10/1911, ngày 31/10/1911, Tất Thành viết thư gửi khâm sứ Trung Kỳ nhờ chuyển cho cha mandat 15 đồng Đông Dương và viết thư cho anh là ông cả Khiêm -Nguyễn Sinh Khâm hoặc Nguyễn Tất Đạt- đang giúp việc vặt tại Toà Khâm Sứ Trung Kỳ, nhờ vận động xin vào Ecole Coloniale. Việc này cũng thất bại.

 Theo lời khai của ông Bùi Quang Chiêu với mật thám Sài Gòn ngày 21/9/1922, thì khi gặp trên tàu, Tất Thành nói với ông mục đích sang Pháp là để xin khiếu nại cho cha vừa bị bãi chức, và muốn đến ở nhà thuyền trưởng Do Huu Chan đang làm việc ở Marseille để nhờ ông giúp đỡ trong việc khiếu nại đó[17].

Xin nhắc lại: "Nguyễn Sinh Huy đậu phó bảng năm 1901; năm 1906 vào Huế nhậm chức thừa biện Bộ Lễ; 1909 được cử làm tri huyện Bình Khê (tỉnh Bình Định), nhưng chỉ 7 tháng sau, tháng 1/1910, thì bị bãi chức và bị triệu về Huế. Lý do: theo sở mật thám ông đã uống rượu say và đánh chết người"[18].

Vậy việc khuyên Tất Thành xin vào trường Thuộc Địa và viết đơn giùm có thể là thuyền trưởng Đỗ Hữu Chân -hay Chấn- làm. Cũng không loại trừ khả năng chính ông Bùi Quang Chiêu đã nghĩ ra, vì thương Tất Thành là con quan -ông Chiêu đã dạy ông Nguyễn Sinh Huy về nông nghiệp- phải làm việc trên tàu cực khổ, nên đã giới thiệu Thành với ông Đỗ Hữu Chấn và nhờ ông Chấn giúp đỡ, vì ông Chấn ở cùng công ty hàng hải. Đơn xin học đề ngày 15/9/1911 ở Marseille, đúng là thời gian tàu ghé Marseille trên đường về Sài Gòn. Ngày 16/10/1911, Văn Ba lĩnh lương tại Sài Gòn. Tất cả ăn khớp vì đường Thủy Marseille - Sài Gòn là một tháng. Tại Sài Gòn, Tất Thành lại nhờ anh, ông Đạt, viết thư gửi khâm sứ và toàn quyền, xin vào trường Thuộc Địa một lần nữa, nhưng vẫn bị từ chối. Từ đây, Tất Thành phải chấp nhận nghề thủy thủ.

Theo Hémery, từ 1912 tới mùa hè 1914, Tất Thành vẫn dùng tên Ba, tiếp tục làm bồi, phụ bếp, hoặc phu khuân vác trên những tàu xuyên Đại Tây Dương, chạy đường Le Havre - Londres - New York, hoặc Châu Phi - Châu Mỹ.

 Từ 1914 đến 1919, bỏ việc trên tàu, sống tại Luân Đôn với tên Nguyễn Tất Thành, ở số 8 Tottenham Road. Hémery cho rằng trong thế chiến, Tất Thành không sang Pháp vì sợ có thể bị gọi đi quân dịch. Làm việc tại khách sạn Carlton, rửa bát, rồi phụ bếp. Học tiếng Anh và hình như buổi tối có học thêm Máy móc (Mécanique) và Điện. Trao đổi thư từ với Phan Châu Trinh bằng Hán văn. Giữa tháng 6/1919, sang Paris. Hoạt động trong nhóm An Nam Yêu Nước. Ngày 27/12/1920, khai mạc hội nghị Tours của đảng Xã Hội (SFIO), Nguyễn Tất Thành xuất hiện công khai với tên Nguyễn Ái Quốc. Ngày13/6/1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật đi Nga, tới Moscou ngày 30/6/1923. Tháng 2/1925, Lý Thụy xuất hiện ở Quảng Đông, tình báo Trung Hoa nhận diện là Nguyễn Ái Quốc. Thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội.

 

● Trình độ học vấn

Theo năm sinh chính thức 1890, thì khi xuống tàu đi Pháp năm 1911, Tất Thành 21 tuổi.

Từ điển Văn học và các tiểu sử chính thức khác đều ghi: thủa nhỏ học chữ Hán rồi quốc ngữ, sau vào Quốc Học Huế. Đầu năm 1911, bỏ học vào Phan Thiết dạy trường Dục Thanh, ít lâu sau vào Sài Gòn, rồi từ Sàigòn "xuất dương tìm đường cứu nước".

Daniel Hémery viết: "Theo lời khai của Đạt (anh cả của Thành) với Sở Mật thám năm 1920, thì Thành học trường bảo hộ (franco-indigène), dường như Đông Ba, đậu bằng Tiểu học (Certificat d'études primaires). Cả hai ghi tên vào trường Quốc học (...) nhưng Thành học dở dang, bỏ đi làm (khoảng 1909?), làm trợ giáo, lương 8 đồng một tháng, ở trường Dục Thanh tại Phan Thiết"[19].

Hémery ghi rõ học trường Pháp-Việt, còn đậu cả bằng Certificat d'études primaires. Nếu chi tiết này đúng, tức là Nguyễn Tất Thành đi học đến năm 19 hoặc 21 tuổi, và nếu có Certificat d'études primaires, tất phải biết tiếng Pháp.

Nhưng Trần Dân Tiên viết ngược lại: Ở tàu Latouche-Tréville "mỗi ngày anh Ba phải làm từ 4 giờ sáng", "công việc kéo dài suốt ngày", "suốt ngày anh Ba đẫm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi than", buổi tối có hai người lính giải ngũ về Pháp, tốt bụng, "dạy cho anh đọc và viết". Và khi làm vườn cho ông chủ tàu ở Sainte-Adresse, "anh học tiếng Pháp với cô sen"[20]. Một người đã có bằng Certificat d'études primaires không thể không biết đọc và viết tiếng Pháp, mà phải học tiếng Pháp với cô sen.

Nhưng cũng không có lý gì mà Hồ Chí Minh viết sai về chuyện này, nhất là ông lập lại nhiều lần rằng khi đến Pháp ông không rành tiếng Pháp, không viết được tiếng Pháp, phải nhờ Phan Văn Trường viết hộ.

Tại sao có nghịch lý này? Xin tạm giải thích như sau: Trong lá thư từ chối đơn xin học của Nguyễn Tất Thành[21], ông hiệu trưởng trường Thuộc Địa nói rõ lý do: Trường chỉ nhận những học sinh đã học ở Đông Dương và do toàn quyền Đông Dương quyết định. Vì vậy, khi về qua Sài Gòn, Tất Thành mới viết thư cho ông cả Đạt, nhờ ông viết thư cho khâm sứ và toàn quyền, để xin cho em mình vào học trường Thuộc Địa. Trong hai lá thư này, để có trọng lượng, chắc ông Đạt khai là em mình đã học các trường Pháp Việt Đông Ba và Quốc Học... Vì vậy, năm 1920, khi Nguyễn Tất Thành đã "nổi danh" là Nguyễn Ái Quốc, sở Mật Thám gọi ông Đạt lên hỏi cung, ông giữ nguyên lời khai cũ.

Tóm lại, vấn đề học vấn của Nguyễn Tất Thành, phần chữ Hán là chắc chắn, vì cha là phó bảng Nguyễn Sinh Huy, bạn của Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh... Còn việc học ở các trường Đông Ba, Quốc Học, dường như không lấy gì làm chắc lắm.

 

● Nguyễn Tất Thành đến Paris

1/ Trong thời gian ở Anh, Nguyễn Tất Thành có trao đổi thư từ với Phan Châu Trinh, gọi cụ Phan là Hy Mã nghi bá đại nhơn - Hy Mã là tên hiệu của Phan Châu Trinh, nghi bá là bác kính- tự xưng là cuồng điệt Nguyễn Tất Thành -cuồng điệt là người cháu hăng say. Vì Phan Châu Trinh bị theo dõi rất kỹ, loạt thư này không qua mắt được mật thám, đó cũng là một trong những lý do xác định khoảng 1914-1918, Nguyễn Tất Thành sống ở Luân Đôn.

2- Theo Thu Trang, mật thám tìm thấy thẻ thư viện mang tên Nguyễn Ái Quốc, ghi năm 1919[22]. Chứng này không đáng tin, vì thẻ thư viện, cũng như thẻ sinh viên, phải đề đầy đủ họ và tên thật Nguyễn Tất Thành, hoặc chỉ đề họ Nguyễn, chứ không thể đề tên hiệu Nguyễn Ái Quốc. Việc này có thể do mật thám nhìn thấy thẻ có tên Nguyễn, rồi bịa thêm thành Nguyễn Ái Quốc để lấy điểm.

3- Về thời điểm sang Pháp, Trần Dân Tiên viết:

Thế giới đại chiến bùng nổ. (....) Anh Ba đến nói với tôi: "Xin từ biệt anh Nam".

- Anh đi đâu?

Tôi đi Pháp (...)

Sau khi rời Luân Đôn, anh Ba viết thư cho tôi. Đại ý thế này:

"Tôi đã gặp nhà ái quốc Phan Châu Trinh. (...) Tôi cũng gặp luật sư Phan Văn Trường và những người khác. Tôi nói với họ: Trong khi vua Duy Tân nổi dậy ở Huế, nhân dân Thái Nguyên và nhiều nơi khác khởi nghiã, thì chúng ta phải làm gì chứ?"[23]

Trích đoạn trên đây cho thấy, "lần sang Pháp vào lúc đại chiến bùng nổ" Tất Thành mới gặp Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường. Nhưng lại có mâu thuẫn: Đại chiến thứ nhất bùng nổ năm 1914. Vua Duy Tân nổi dậy, 1916 và khởi nghiã Thái Nguyên, 1917. Vậy nếu Tất Thành sang Paris khi đại chiến bùng nổ vào năm 1914, thì làm sao biết được những biến cố xẩy ra năm 1916 và 1917?

Tại sao phải nói bừa như vậy?

Đọc đoạn Trần Dân Tiên viết về Hội Nghị Hoà Bình Versailles 1919, chúng ta có thể hiểu lý do:

"Họ đến để yêu cầu độc lập và tự do. Trong số đó, người ta thấy có ông Nguyễn Ái Quốc (tức là anh Ba). (...) Ông Nguyễn tổ chức nhóm người Việt Nam Yêu Nước ở Pa-ri và ở các tỉnh Pháp. Với danh nghiã của tổ chức này, ông đã đưa những yêu cầu ra trước hội nghị Véc-Xây (...) Cũng nên nhắc lại ý kiến đưa yêu cầu do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp. Cũng nên nhắc lại là ông Phan Châu Trinh và ông Phan Văn Trường không tán thành hoạt động của nhóm Việt Nam Yêu Nước, vì các ông ấy cho nhóm thanh niên là trẻ con"[24].

Trần Dân Tiên nhận mình đã "tổ chức nhóm người Việt Nam Yêu Nước ở Paris và ở các tỉnh", là nói bậy. Về bản Thỉnh Nguyện Thư thì viết đúng: luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp. Còn câu: "các ông ấy cho nhóm thanh niên là trẻ con" nên hiểu: hai ông Phan thuộc lớp già, chê lớp trẻ: Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tất Thành là trẻ con.

Tóm lại, đoạn "anh Ba đi Pháp khi đại chiến thế giới bùng nổ" sở dĩ có nhiều chỗ vô lý, vì nó được viết ra với hậu ý chứng minh rằng:

- Chính Nguyễn Tất Thành đã dựng nên nhóm Người An Nam Yêu Nước.

- Chính Nguyễn Tất Thành là tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc.

- Chính Nguyễn Tất Thành chủ động đưa ra ý kiến về bản Thỉnh Nguyện Thư ở Hội nghị Hoà Bình Versailles 1919.

- Và Nguyễn Tất Thành viết được những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc là do đã ở Pháp từ 1914 và đã hết sức cố gắng học tiếng Pháp.

Xin nhắc lại: Khi Nguyễn Tất Thành đến Pháp -sẽ được xác định vào tháng 6/1919- Hội Nghị Hoà Bình Thế Giới đã khai mạc từ 18/1/1919 ở Versailles, tức là nửa năm trước, và nhóm An Nam Yêu Nước đã hoạt động từ khoảng 1916. Vậy Nguyễn Tất Thành không thể "tổ chức" nhóm An Nam Yêu Nước và cũng không "đề ra những yêu cầu" ở Versailles. Tất Thành chỉ là người được nhóm An Nam Yêu Nước chỉ định đem bản Thỉnh Nguyện Thư Của Người An Nam đến Hội Nghị Hoà Bình Versaillles.

Hội Nghị Hoà Bình (Conférence de la Paix) do khối đồng minh thắng trận đại chiến thứ nhất tổ chức, khai mạc ở Versailles ngày 18/1/1919 và kết thúc tháng 8/1920.

Ủy ban tối cao gồm các nước Mỹ, Pháp, Anh, Ý, Nhật.

Hội nghị bàn nhiều vấn đề, chủ yếu như:

- Sự cáo chung của Đế quốc Đức, đế quốc Áo-Hung, đế quốc Ottoman.

- Xây dựng ba nhà nước ở Âu châu: hồi sinh nước Ba Lan (Pologne), tạo ra các nước mới: Tchécoslovaquie và Yougoslavie.

- Thuộc địa Đức được lấy lại để chia cho Anh, Pháp, Bỉ, Nam Phi, Mỹ và Nhật.

- Đức phải bồi thường chiến tranh.

Bên lề hội nghị còn có những vấn đề:

- Nguyên tắc bình đẳng giữa các giống người.

- Hội nghị về Châu Phi tại Paris tháng 7/1919.

Ngày 8/1/1918, Tổng thống Mỹ đọc một diễn văn quan trọng tại Nghị Viện Hoa Kỳ, chủ yếu gồm 14 điểm, mà hội nghị Versailles sẽ lấy làm nền để bàn luận, nội dung nằm trên hai nguyên tắc: Dân tộc tự quyết và Tự do hoà bình.

Wilson được giải Nobel Hoà Bình năm 1919.

Đối với Việt Nam và các dân tộc bị trị trên thế giới, chủ trương của tổng thống Wilson sẽ là cơ hội và nền móng cho các chuyển động đòi độc lập.

Tuyên bố Wilson đi đôi với những cuộc tranh luận về vấn đề thuộc địa ở nghị viện Pháp, tiếp đó, nền chính trị thuộc địa được bàn cãi rộng rãi ở Hà Nội từ ngày 24/4/1919 với bài diễn văn cởi mở của toàn quyền Albert Sarraut, thuộc đảng Xã Hội, đề ra khái niệm  "công dân bản xứ" (citoyens indigènes), một thứ "quyền chính trị mở rộng cho người dân bản xứ" (une extension sensible de leurs droits politiques dans la cité indigène), và sau cùng là Hội Nghị các vấn đề Châu Phi tháng 7 năm 1919.

Tất cả những biến cố này đã góp phần củng cố các phong trào đòi độc lập và hoà bình của các nước bị trị.

Bản Thỉnh Nguyện Thư của Phan Văn Trường đưa ra giữa tháng 6/1919, là lúc cao trào mọi chuyển động. Phan Văn Trường dùng hai nguyên tắc chủ yếu của Wilson là Dân tộc tự quyết và Tự do hoà bình làm nền tảng cho việc đòi hỏi tự do dân chủ của nước mình.

Theo Daniel Hémery trong cuốn Ho Chi Minh de L'indochine au Vietnam[25], dựa vào tư tưởng chống thực dân của tổng thống Mỹ, mùa thu năm 1918, trước khi Hội Nghị Hoà Bình họp, nhóm Tunisie và Algérie đã cho in Bản tuyên ngôn của Ủy ban Tunisie và Algérie tại Hội Nghị Hoà Bình, và Hội những người lao động Trung hoa ở Pháp, những người Ái Nhĩ Lan, Hội những người Triều Tiên cũng đã phát hành  những tờ báo hoặc những bản công bố. Một trong những bản thỉnh nguyện đầu tiên của người Việt Nam đòi độc lập là của cựu hoàng Duy Tân, bị đầy từ năm 1916.

Trong chiến tranh, Pháp đã tập trung 900 ngàn người ở các thuộc địa đến Pháp để đánh giúp, trong đó có 92 ngàn người Việt Nam[26]. Số lính thợ di dân tạo nên những phong trào yêu nước chống Pháp của người dân các thuộc địa như Tunisie, Algérie... và Việt Nam với nhóm An Nam Yêu Nước của Phan Văn Trường. Trong bối cảnh tổng thống Wilson tuyên bố chống lại chính sách thuộc địa, Hội Nghị Hoà Bình Thế Giới là cơ hội hiếm có để tiếng nói của các nước bị đô hộ vùng lên, và nhóm Yêu Nước đã nhắm đúng thời cơ để công bố bản Thỉnh Nguyện Thư tám điểm, ký tên Nguyễn Ái Quấc.

 

● Xác định ngày Nguyễn Tất Thành đến Paris

1/ Việc Tất Thành sang Pháp năm 1914, quá khó tin; cho nên trong cuốn Thời thanh niên của bác Hồ[27], Hồng Hà (được lệnh) sửa lại như sau:

"Anh bỏ nghề phụ bếp ở Luân Đôn, sang Pháp, đấy là vào cuối năm 1917"[28].

"Vừa tới Pa-ri, anh Nguyễn Ái Quốc đến ở nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh[29] một phố yên tĩnh của quận 13. Đây là nhà của luật sư Phan Văn Trường. Cùng ở có cụ Phan Châu Trinh mà anh Nguyễn Ái Quốc có thư từ thăm hỏi luôn khi anh còn ở Luân Đôn. Ông Trường nhường cho anh một buồng con trên gác ba, vừa đủ kê một cái bàn, một cái giường và một cái tủ con. Dạo ấy, nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh là một trung tâm gặp gỡ của nhiều Việt kiều ở Pa-ri. Có khi bà con đến chơi ăn ở liền mấy ngày (...) Cụ [Phan Châu Trinh] làm nghề ảnh tư ngay tại nhà số 6. Để sống, anh Nguyễn - cả người Việt lẫn người Pháp quen gọi anh Nguyễn Ái Quốc như thế - cùng với một kiều bào khác là Tuyết giúp việc cho cụ Phan đồng thời học nghề rửa ảnh và phóng đại ảnh. Cụ Phan là một nhà yêu nước chân thành, nổi tiếng ở Việt Nam và nước ngoài. Cụ hơn anh Nguyễn 19 tuổi, còn ông Trường vốn là thông ngôn, học đến tiến sĩ luật học, làm nghề luật sư ở Pa-ri. Ông giỏi tiếng Pháp, vào quốc tịch Pháp, có nghiên cứu chủ nghiã Mác, quen biết nhiều trí thức và nhà chính trị Pháp. Điều mà anh Nguyễn băn khoăn hỏi hai người lúc đó làm gì cho đất nước trong khi đồng bào khao khát cách mạng thì không được trả lời thoả đáng, rõ ràng. Anh Nguyễn vừa làm nghề rửa ảnh vừa chăm chỉ học thêm tiếng Pháp với ông Trường"[30].

Trích đoạn này cho ta một số thông tin rất đáng lưu ý. Đặc biệt câu: "Vừa tới Pa-ri, anh Nguyễn Ái Quốc đến ở nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh". Chính câu này đã xác định, một lần nữa, ngày tháng Nguyễn Tất Thành đến Paris: Bởi vì căn nhà số 6, ngõ cụt Gobelins, Phan Văn Trường chỉ ở sau giải ngũ, tức là từ tháng 4/1919, khi ông về sống tại Paris[31].

 Tóm lại, nếu Nguyễn Tất Thành đến Paris ở ngay nhà Phan Văn Trường, 6 Villa des Gobelins, thì chỉ có thể là sau tháng 4/1919, thời điểm Phan Văn Trường đã giải ngũ, lên Paris và trước khi Nguyễn Tất Thành đem bản Thỉnh Nguyện đến Versailles, giữa tháng 6/1919.

 2/ Một mật báo của Pierre Guesde - tổng thanh tra quân đội Đông Dương và người Đông Dương- Contrôleur général des troupes indochinois et des Indochinois chắc là chức vụ tình báo cao nhất về vấn đề Đông Dương, thời đó - không đề ngày, nhưng chắc là cuối năm 1919, ghi như sau:

"Người có tên gọi là Nguyễn Ái Quốc, 27 tuổi, quê ở Đông Dương. Anh ta đã từ Luân Đôn (Anh) đến Paris hồi tháng 6 vừa qua, ở một mình từ ngày 7 đến ngày 11/6/ tại số nhà 10 phố Stockholm, rồi từ ngày 12/6 đến ngày 13/7 vừa qua tại 56 Monsieur Le Prince. Sau đó, anh ta cư trú tại 6 Villa des Gobelins, ở với người đồng hương có tên là Phan Văn Trường sinh năm 1878 ở Hà Nội (Bắc Kỳ), luật sư toà Phúc Thẩm Paris"[32].

Mật báo này có lẽ là nguồn mà Sophie Quinn-Judge trích dẫn trong bài viết của bà, để xác định Tất Thành từ London đến Paris ngày 7/6/1919.

 Tóm lại, theo tổng thanh tra Guesde: Tất Thành đến Pháp ngày 7/6/1919. Ở số 10 Stockholm từ 7/6 đến 11/6. Ở 56 Monsieur Le Prince từ 12/6 đến 13/7. Và từ 14/7/1919 đến ở 6 Villa des Gobelins. Được ông Khánh Ký dạy cho nghề rửa ảnh.

Vậy có thể xác định chắc chắn rằng: Nguyễn Tất Thành đến Pháp ngày 7/6/1919. Kết hợp mật báo của Pierre Guesde và các sự kiện khác, tất cả đều ăn khớp.

Nguyễn Tất Thành ở nhà số 6 Villa des Gobelins của Phan Văn Trường trong hai năm, từ tháng 6/1919 đến ngày 14/7/1921 mới dọn tới số 9, Impasse Compoint, khu 17.

Đây là khu phố nghèo dành cho thợ thuyền, gần ngoại ô phía Bắc Paris, Tất Thành tiếp tục nghề ảnh ở một cửa hiệu gần nhà. Ngày 14/3/1923, Tất Thành dọn về trụ sở báo Le Paria, số 3 Marché des Patriaches[33], ở được ba tháng đến 13/6/1923, lên đường đi Nga.

Khi đã xác định được đúng thời điểm Nguyễn Tất Thành đến Pháp, ta có thể đi sâu hơn nữa vào các tổ chức Việt kiều, vào sự phát sinh cái tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc và những công trình Hồ Chí Minh nhận là của ông nhưng lúc đó ông chưa có mặt tại Paris.

 

● Căn nhà số 6 Villa des Gobelins và ông Khánh Ký

Căn nhà số 6 Villa des Gobelins, được coi là "trụ sở" của Hội Người An Nam Yêu Nước, nhiều nơi ghi là địa chỉ của Phan Văn Trường từ 1912, đặc biệt trong bản báo cáo của dự thẩm quan ba Caron, ngày 23/6/1915, với câu: "Sở Mật Thám khám nhà hai ông: không bắt được gì tại nhà ông Trường ở 6 Villa des Gobelins. Tại nhà ông Trinh ở 16 Cujas có bắt được một số tư liệu chữ Hán và quốc ngữ"[34].

Trong hồi ký, Phan Văn Trường cho biết: Từ khi sang Pháp cuối năm 1908 đến 1913, cuộc đời ông chia đôi giữa trường Sinh Ngữ Đông Phương, nơi ông dạy học và trường Luật, nơi ông học.

Bắt đầu từ tháng 4/1913, ông nói đến địa chỉ rue Bertholet (PVT, trang 99). Và đến tháng 2/1916, đóng ở Toulouse, khi được nghỉ phép về Paris, ông vẫn ở cái appartement ấy (PVT, trang 168).

1914-1915, đi tù. Ra tù, bị đổi xuống Toulouse, nhưng không ở trong trại lính mà thuê nhà ở riêng, đổi nhà 2 lần, đều ở Phố Taur - Rue du Taur.

Appartement phố Bertholet có lúc cho cháu ở, bị an ninh khám 2 lần, đều giả ăn trộm, lần thứ nhất khi ông vừa nhập ngũ, lần thứ nhì khi ông đã bị tù trong ngục Cherche-Midi, và mật thám đã lấy đi tất cả tài liệu (PVT, trang 112), cả bài diễn văn Les revendications indigènes - Những thỉnh nguyện của người bản xứ, đọc ở trường Cao Đẳng Xã Hội ngày 13/3/1914, cũng bị tịch thu trong 2 buổi khám nhà này.

Sự nhầm lẫn của Caron có thể giải thích như sau: số 6 Villa des Gobelins là một nhà lầu (immeuble) có nhiều phòng. Khoảng 1914-1915, có thể ông Khánh Ký đã thuê cho những người đồng hương lỡ bước ở nhờ.

Ông Khánh Ký tên thật là Nguyễn Văn Xuân, là một nhà ái quốc, thợ ảnh và doanh nhân, một trong ba cột trụ của Hội Đồng Bào Thân Ái, là người kinh tài cho tổ chức Yêu Nước ngay từ những ngày đầu, bạn thân của Phan Văn Trường, không hề rời ông Phan, dù ở Paris, Toulouse hay sang Mayence, Đức. Chính ông Khánh Ký đã dạy cho Phan Châu Trinh và Nguyễn Tất Thành nghề ảnh để kiếm sống tại Pháp. Và Nguyễn Như Chuyên -có nhiệm vụ theo dõi Phan Châu Trinh từ trên tàu rời Việt Nam- cũng đã ở số 6 Villa des Gobelins trong thời điểm đó.

 Vì vậy mới có sự lầm lẫn trong phúc trình Caron và trong báo cáo của một số chỉ điểm khác. Mà cũng chưa hẳn là nhầm: có thể chính Nguyễn Như Chuyên đã dẫn mật thám đến khám nhà này năm 1914 và bảo đó là nhà của Phan Văn Trường.

Một mật báo của Deveze ngày 29/4/1921 cho biết thêm: "Hôm qua trong căn hộ của Phan Văn Trường ở 6 Villa des Gobelins đã xẩy ra một cuộc cãi cọ dữ dội giữa một bên là Khánh Ký và bên kia là Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc và Tạ Văn Căn. Khánh Ký đã nhân danh Phan Văn Trường cam kết với chủ ngôi nhà, ông Richard, là sẽ trả dần tiền thuê nhà trong 5 năm chiến tranh, nay không thể tiếp tục trả nữa và nói rằng những người ở nhà phải trả nợ đó (...) Khánh Ký còn báo với Phan Châu Trinh là người cháu của Phan Văn Trường là Phan Cao Lu (Lục?) làm cho một ngân hàng tư nhân ở Toulon sẽ đến ở Paris cùng với vợ và một cháu bé và phải giành chỗ ở cho anh ta trong căn hộ. Tình hình đó làm cho Phan Châu Trinh, Tạ Văn Hộ và Nguyễn Ái Quốc rất lo lắng, họ không biết sẽ làm sao ở chung được với gia đình trẻ có một cháu bé như vậy. Do đó họ đã tìm bà gác cổng để hỏi xem trong nhà còn nơi nào chưa có người thuê không"[35].

Như vậy, ông Khánh Ký đã thuê căn nhà Villa des Gobelins từ trong chiến tranh, và tới tháng 4/1921, ông báo cho những ai ở đó phải lo trả tiền nhà. Bởi vì ông đang sửa soạn về nước. Ông về Hà Nội ngày 25/7/1921[36].

 Đó là lý do khiến ngày 14/7/1921, Tất Thành phải dọn tới 9 Impasse Compoint. Phan Châu Trinh ở lại đến cuối năm 1921 mới dọn ra 21 Pernety. Có lẽ vì giận Tất Thành hay làm ẩu nên ông Khánh Ký nói vậy -khi ở Mayence, ông Khánh Ký đã viết thư răn đe Tất Thành nên ăn ở tử tế với ông Trường- chứ ông Trường viết thư cho ông Trinh ngày 27/4/1921 còn dặn dò: "Tôi đã bảo cho Lục nếu nó cần ở Paris mấy tháng thì có thể đến căn hộ của tôi nhưng phải để gia đình ở Toulon. Nếu nó đem theo ai thì anh báo cho tôi. Roux đến Paris có việc gì hay chỉ đến thăm anh"[37].

 

● Trình độ chính trị của Nguyễn Tất Thành

Trần Dân Tiên viết: "Lúc ấy, ông Nguyễn là một người yêu nước quyết tâm hy sinh tất cả vì tổ quốc; nhưng ông Nguyễn lúc đó rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là công hội, thế nào là bãi công và thế nào là chính đảng (...) Ông Nguyễn không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường viết thay. Ông Trường viết giỏi, nhưng không muốn ký tên. Mà chính ông Nguyễn đã phải ký tên những bài báo"[38].

Đoạn này xác định thêm một lần nữa: Nguyễn Tất Thành không biết tiếng Pháp và cũng không hiểu gì về chính trị, nhưng những chi tiết này ở các bản tiểu sử chính thức về sau sẽ bị xoá hẳn. Trần Dân Tiên viết tiếp về việc học viết báo tiếng Pháp: "Nhược điểm về tri thức làm ông Nguyễn rất khó chịu. Nhất là ông Trường không viết tất cả những điều ông Nguyễn muốn nói. Vì vậy, ông Nguyễn bắt tay vào việc học làm báo. Thường lui tới toà báo "Dân Chúng", ông làm quen với những người Pháp khác trong đó có chủ bút tờ "Đời sống thợ thuyền". Cũng như ông Lông-ghê, người chủ bút này cũng rất đáng mến. Ông bảo ông Nguyễn viết tin tức cho tờ báo của ông. Biết rằng không thể nhờ ông Trường viết mãi, ông Nguyễn nói thật là mình cón kém tiếng Pháp. Người chủ bút nói: "Điều đó không ngại, có thế nào anh viết thế ấy. Tôi sẽ chữa bài của anh trước khi đưa in. Anh không cần viết dài, năm, sáu dòng cũng được". Ông Nguyễn bắt đầu viết rất khó khăn. Tin tức về Việt Nam, ông Nguyễn không thiếu. Ông thiếu nhất là văn Pháp (...) Khi thấy viết đã bớt sai lầm, ông chủ bút bảo ông Nguyễn: "Bây giờ anh viết dài hơn một tý, viết độ bảy tám dòng". Ông Nguyễn viết bảy, tám dòng. Dần dần, ông Nguyễn có thể viết cả một cột báo và có khi dài hơn. Lúc bấy giờ người chủ bút bạn thân của ông Nguyễn khẽ bảo:"Bây giờ anh viết ngắn lại. Viết từng này hoặc từng này dòng. Không viết dài hơn"[39].

Việc học tiếng Pháp để viết báo trong vài năm chỉ có thể đưa đến kết quả: Nguyễn Tất Thành có thể viết được vài hàng tin tức. Còn viết được những bài xã luận ký tên Nguyễn Ái Quốc là một chuyện khác. Nhất là Tất Thành chỉ ở Pháp có 4 năm.

Tóm lại, phần thành thật trong nhật ký Trần Dân Tiên là nhìn nhận lúc ở Pháp, Tất Thành chưa biết gì về chính trị, tiếng Pháp kém và muốn học để viết báo. Nhưng cũng có chỗ không thành thật: vì ông đã nâng thời điểm Tất Thành đến Pháp từ 1919 lên 1914, để chứng tỏ những việc làm của Phan Văn Trường là Nguyễn Tất Thành làm. Theo thông tin tình báo, ông chơi rất thân với Nguyễn Thế Truyền, người bạn có lúc ở chung với ông, hoặc ngày nào cũng gặp, có lẽ Nguyễn Thế Truyền mới là người đắc lực dạy ông tiếng Pháp.

Ở Hội Nghị Tours, khai mạc ngày 27/12/1920, Nguyễn Tất Thành xuất hiện công khai với cái tên Nguyễn Ái Quốc. Hémery viết: "Nguyễn xoay sở để được mời đi dự Đại Hội đảng Xã Hội ở Tours, nhân danh đại biểu khu 13 của nhóm Xã Hội Đông Dương ma (fantomatique). Ngày 27/12 anh phát biểu ủng hộ kiến nghị Cachin-Frossard, ủng hộ việc đảng Xã Hội gia nhập Quốc Tế Cộng Sản"[40].

Về Hội Nghị Tours, Trần Dân Tiên viết: "ông Nguyễn lắng nghe nhưng không hiểu rõ lắm, vì người ta thường nhắc đi nhắc lại những tiếng, những câu: chủ nghiã tư bản, giai cấp vô sản, bóc lột, chủ nghiã xã hội, cách mạng (...) Ông Nguyễn nhức đầu vì khó hiểu"[41].

Tuy không hiểu rõ những bàn cãi chính trị trong Hội Nghị Tours, nhưng Nguyễn vẫn bỏ phiếu cho Đệ Tam Quốc Tế vì ông nghĩ: "Đệ Tam Quốc Tế nói sẽ giúp đỡ các dân tộc bị áp bức giành lại tự do và độc lập của họ"[42].

Đoạn này Trần Dân Tiên cũng viết rất thực, nhưng trong cuốn Hồng Hà và các tiểu sử chính thức về sau, những đoạn thành thực như thế sẽ bị xoá hẳn, để thêm vào những đoạn dài mô tả "Bác" đã "nghiên cứu" kỹ càng lý thuyết Mác-Lê trước khi dự Hội Nghị Tours.


 
[1] Nguyễn Tường Bách, Việt Nam những ngày lịch sử, Tủ sách nghiên cứu, Montréal, 1981, trang 70.

[2] Đặng Thai Mai, Hồi ký, Tác phẩm mới, 1985, trang 355.

[3] Nguyễn Thế Anh, L'itinéraire politique de Ho Chi Minh, in trong cuốn Ho Chi Minh, L'homme et son héritage, Đường Mới, Paris, 1990.

[4] P. Brocheux dẫn Hémery, Ho Chi Minh, Presses Sciences Po, 2000, trg15.

[5] T. Lan là một trong những bút hiệu của Hồ Chí Minh sau 1951, theo Bùi Tín, ông Hồ rút ngắn bí danh Trần Thái Lan của Nguyễn Thị Minh Khai khi hoạt động ở Hương Cảng và Quảng Đông.

[6] Lữ Phương, Từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ Chí Minh, Thư Nhà, Melbourne, Australia, 2002, trang 5.

[7] Lữ Phương, sđd, trang 26-27).

[8] Lữ Phương, sđd, trang 25.

[9] Trần Dân Tiên, trang 17.

[10] Chép theo sổ hành trình của tàu, Hồng Hà, trang 27-28-29. Lê Thị Kinh, sđd, tập 1, quyển 3, trang 187.

[11] Trần Dân Tiên, trang 18-19-20.

[12] Lê Thị Kinh, sđd, tập 1, quyển 3, trang 187-188.

[13] Nhà báo Pháp, cánh tả, nổi tiếng làm phim thời sự về Việt Nam.

[14] Vũ Ngự Chiêu &Nguyễn Thế Anh, Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành, Tủ sách Văn Hoá, Paris, 1983, trang 117- 118.

[15] Lê Thị Kinh, sđd, trang 188-190.

[16] Vũ Ngự Chiêu & Nguyễn Thế Anh, trang 121.

[17] Hémery, sđd, trang 36-37. Lữ Phương, sđd, trang 19-20.

[18] Trích theo Lữ Phương, sđd, trang 16, LP trích lại Hémery, Jeunesse d'un colonisé, genèse d'un exil. Ho Chi Minh jusqu'en 1911, Approche Asie, No 11, 1992.

[19] Daniel Hémery, Ho Chi Minh De L'Indochine au Viet Nam, Gallimard 1990, trang 32-33.

[20] Trần Dân Tiên các trang 15-16-17 và 20.

[21] Vũ Ngự Chiêu & Nguyễn Thế Anh, sđd, trang 121.

[22] Thu Trang, Rapport ký tên Jean, in trong Phụ lục cuốn Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925, Đông Nam Á, Paris, 1983.

[23] Trần Dân Tiên, trang 30-31.

[24] Trần Dân Tiên, trang 32.

[25] Découverte Gallimard, 1990, trang 43

[26] Hémery, sđd, trang 42.

[27] Nxb Thanh Niên, 1976.

[28] Hồng Hà, trang 38.

[29] 6 villa des Gobelins. Villa ở đây nghiã là Ngõ cụt, không phải là Phố.

[30] Hồng Hà, sđd, trang 38 và 19.

[31] Phan Văn Trường, Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la vérité sur L'Indochine - Chuyện những người An Nam âm mưu ở Paris hay Sự thật về Đông Dương, L'Insomniaque, 2003.

[32] Lê Thị Kinh, sđd, tập 2, quyển 1, trang 64.

[33] Hồng Hà, trang 187.

[34] Lê Thị Kinh, sđd, tập 1, quyển 3, trang 14.

[35] Lê Thị Kinh, sđd, tập 2, quyển 1, trang 188.

[36] Lê Thị Kinh, tập 2, quyển 1, trang 211.

[37] Lê Thị Kinh, sđd, t2, q1, trang 190.

[38] Trần Dân Tiên, trang 34- 35.

[39] Trần Dân Tiên, trang 35- 36.

[40] Hémery, trang 46.

[41] Trần Dân Tiên, trang 46-47.

[42] Trần Dân Tiên, trang 49.

 

 


© 1984-2012 Thụy Khuê