Hiển thị các bài đăng có nhãn THơ Ca. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THơ Ca. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2013

Charles Baudelaire và Hoa Khổ Đau

baudelaire_The_Perfume_MagazineCharles Baudelaire (1821-1867) là nhà thơ lớn của văn học Pháp thế kỷ XIX .., thuộc trường phái "Tượng Trưng" chủ nghĩa, biểu tượng những mối quan hệ giữa nội tâm con người với thế giới bên ngoài … dựa trên các hiện thực cao thượng nhưng ẩn mật sau các vết son hào nhoáng của xã hội phồn hoa giả tạo … Thơ Baudelaire là một sự phiêu lưu kỳ dị vào hư ảo, bí ẩn, siêu thực, đoạn tuyệt để tìm một lối giải thoát cho sự khắc khổ, tuyệt vọng và chán chường …
Thi sĩ Baudelaire sinh tại Paris, mồ côi cha lúc 6 tuổi, mẹ tái giá và đã gửi ông vào một ký túc xá. Ông theo gia đình sang Ấn Độ vào năm 1841, sau đó trở về Paris, sống cuộc đời kham khổ, thiếu thốn và bắt đầu sáng tác. Ông tham gia cuộc cách mạng tháng 2-1848 một thời gian ngắn. Thi sĩ đã gặp vài kiều nữ như Jeanne Duval, Marie Daubrun, Apollonie Sabatier, và chính những người phụ nữ đẹp nầy đã đem nhiều cảm xúc, cuồng nhiệt và thi hứng cho những dòng thơ chập chờn mộng ảo của ông , nhưng ông đã không có được cái may mắn hạnh phúc trong tình trường …. Đời sống của ông đầy dẫy những bất hạnh, đau buồn .. mà ông đã cố thoát ra khỏi cảnh cùng cực bằng ma túy, rượu chè, và lang thang đây đó … Bị xã hội ruồng rẫy, khinh miệt , gia đình cô lập và lạnh nhạt, ông mang đầy mặc cảm và mắc bệnh tâm thần kinh niên, nhiều lần đã có ý định quyên sinh. Cuối cùng chỉ có cái chết mới giải thoát được … năm 1867 ông bị bệnh ốm nặng, qua đời sau một thời gian bị bại liệt tàn phế (Ông mất năm 46 tuổi).
Ông đã viết nhiều bài tiểu luận phê bình nghệ thuật (1845-46), dịch thơ Edgar Allen Poe (1852), xuất bản thi phẩm Les Fleurs du Mal – Hoa Khổ Đau (1857) nhưng không được đón tiếp nồng nhiệt, vì nhiều bài thơ biểu tượng nhục tính, phản luân lý và đạo giáo, và cũng vì thế mà ông và nhà xuất bản đã bị đưa ra tòa và bị phạt vạ. Sáu bài thơ trong thi-phẩm này đã bị kiểm duyệt cắt bỏ. Năm 1859 ông viết cuốn Le Salon bàn luận về công trình của các hoạ sĩ , và sau đó sáng tác thêm 35 bài thơ mới cho thi-phẩm Les Fleurs du Mal, tái bản lần thứ 2 vào năm 1861. Sau khi ông qua đời, người ta cho xuất bản thêm vài tác phẩm của Ông như "Journaux intimes" (Nhật ký riêng tư) và "Petits Poème en prose" (Những bài thơ nhỏ viết theo thể văn xuôi)
Les Fleurs du Mal (Hoa Khổ Đau) là một thi phẩm nổi tiếng của Ông ..mà chính tác giả đã bộc bạch thổ lộ : "viết với tất cả con tim và hận thù …" cho lý tưởng và nghệ thuật .. Đó là những nối tiếp của đau thương, thất vọng, giày vò, xung đột, chán chường . Cuộc sống nghèo khổ, cô độc, bệnh hoạn, vô vọng trong một xã hội lạnh nhạt không ngõ thoát, không hội nhập được, đã làm thơ của Charles Baudelaire trở nên bi quan yếm thế tiêu cực và đôi khi huyền bí, lạnh lùng, khó hiểu, mang những hình tượng ma thuật, hoặc đượm màu triết lý khắc khổ.. Ngôn ngữ thơ của Ông phảng phất những ảo giác siêu hình, ẩn mật giữa hiện thực và hư vô.
1- La Mort des Amants

Nous aurons des lits pleins d'odeurs légères,
Des divans profonds comme des tombeaux,
Et d'étranges fleurs sur des étagères,
Écloses pour nous sous des cieux plus beaux.
Usant à l'envi leurs chaleurs dernières,
Nos deux coeurs seront deux vastes flambeaux,
Qui réfléchiront leurs doubles lumières
Dans nos deux esprits, ces miroirs jumeaux.
Un soir fait de rose et de bleu mystique,
Nous échangerons un éclair unique,
Comme un long sanglot, tout chargé d'adieux;
Et plus tard un Ange, entr'ouvrant les portes,
Viendra ranimer, fidèle et joyeux,
Les miroirs ternis et les flammes mortes.
Charles Baudelaire
Cái Chết Của Tình Nhân
Ta sẽ có chiếc giường hương thoảng nhẹ
Tấm đi văng sâu trũng tựa nấm mồ
Những kỳ hoa phơi bầy trên chiếc kệ
Dưới khung trời diễm lệ nụ trương phô
Hơi ấm cuối hãy cùng nhau xử dụng
Hai con tim: hai ngọn đuốc chói loà
Hai luồng sáng song song cùng phản chiếu
Hai linh hồn: hai kiếng lộng nguy nga
Trời xẩm tối màu hồng xanh huyền ảo
Tia chớp dài trao đổi giữa hai ta
Lời ly biệt khóc than người nức nở
Một Thiên Thần sẽ đến mở cửa ra
Vừa vui vẻ, trung thành, làm sống lại
Chiếc gương mờ, lửa chết tự hôm qua ...
Hải Đà (phỏng dịch)

2- La Muse Malade
Ma pauvre muse, hélas! qu'as-tu donc ce matin?
Tes yeux creux sont peuplés de visions nocturnes,
Et je vois tour à tour réfléchis sur ton teint
La folie et l'horreur, froides et taciturnes.
Le succube verdâtre et le rose lutin
T'ont-ils versé la peur et l'amour de leurs urnes?
Le cauchemar, d'un poing despotique et mutin
T'a-t-il noyée au fond d'un fabuleux Minturnes?
Je voudrais qu'exhalant l'odeur de la santé
Ton sein de pensers forts fuât toujours fréquenté,
Et que ton sang chrétien coulât à flots rythmiques,
Comme les sons nombreux des syllabes antiques,
Où règnent tour à tour le père des chansons,
Phoebus, et le grand Pan, le seigneur des moissons.
Charles Baudelaire
Nàng Thơ Nhuốm Bệnh
Tội nàng thơ ! Sáng nay em sao thế ?
Mắt trùng sâu mộng ảo giữa đêm tà
Trên sắc em thấy gì đang phản chiếu
Nỗi cuồng điên ghê sợ, lạnh xót xa
Thằng quỷ hồng, lão yêu tinh da tái
Rót hồn em lo sợ lẫn yêu thương
Cơn mộng dữ qua bàn tay đùa giỡn
Nhấn chìm em trong bãi lậy hoang đường
Ta muốn em thoát ra nguồn sinh lực
Vùng suy tư về lại bước luôn thường
Dòng máu Chúa vẫn nhịp nhàng tuôn chảy
Lời cổ xưa âm điệu mãi còn vương
Từ nơi đó hai vị thần luôn ngự trị
Cha âm thanh và chúa tể ruộng vườn
Hải Đà (phỏng dịch)

3- La Beauté
Je suis belle, ô mortels! comme un rêve de pierre,
Et mon sein, où chacun s'est meurtri tour à tour,
Est fait pour inspirer au poète un amour
Éternel et muet ainsi que la matière.
Je trône dans l'azur comme un sphinx incompris;
J'unis un coeur de neige à la blancheur des cygnes;
Je hais le mouvement qui déplace les lignes,
Et jamais je ne pleure et jamais je ne ris.
Les poètes, devant mes grandes attitudes,
Que j'ai l'air d'emprunter aux plus fiers monuments,
Consumeront leurs jours en d'austères études;
Car j'ai, pour fasciner ces dociles amants,
De purs miroirs qui font toutes choses plus belles:
Mes yeux, mes larges yeux aux clartés éternelles!
Charles Baudelaire

Người Đẹp
Ta đẹp lắm, như giấc mơ cẩm thạch
Lòng ta đây lần lượt tổn thương người
Để thi nhân tuôn trào muôn cảm hứng
Cho tình yêu bất tử lặng thầm trôi
Như nhân sư trên trời ta ngự trị
Kết tim ngà với sắc trắng thiên nga
Ta ghét động..sợ rời xa vóc nét
Không cười vui và chẳng khóc thiết tha
Thi sĩ đứng.. nhìn ta đầy ngạo nghễ
Những tượng đài vay mượn nét kiêu sa
Trong trầm tư khổ hạnh phí đời qua
Bạn tình đó ta dễ làm say đắm
Chiếc gương trong khiến vật đẹp nguy nga
Đôi mắt lớn chiếu hoài ta rực rỡ .
Hải Đà (phỏng dịch)

4- La Musique
La musique souvent me prend comme une mer !
Vers ma pâle étoile,
Sous un plafond de brume ou dans un vaste éther,
Je mets à la voile;
La poitrine en avant et les poumons gonflés
Comme de la toile,
J'escalade le dos des flots amoncelés
Que la nuit me voile;
Je sens vibrer en moi toutes les passions
D'un vaisseau qui souffre:
Le bon vent, la tempête et ses convulsions
Sur l'immense gouffre
Me bercent. D’autres fois, calme plat, grand miroir
De mon désespoir !
Charles Baudelaire
Âm Nhạc
Ta say nhạc như đam mê biển lớn
Đường ta đi loáng bạc những vì sao
Dưới mây mù phủ lấp cả trời cao
Lòng rộn rã giăng buồm nương gió thổi
Ta ưỡn ngực căng phồng hai lá phổi
Như buồm kia lồng lộng gió ngàn khơi
Ta trèo lên lưng sóng cưỡi chơi vơi
Mịt mùng xa giữa màn đêm phủ bóng
Hồn run rẩy theo từng cơn khát vọng
Của con tàu luôn nhẫn nhục dầy công
Qua gió lành, bão tố, nước bềnh bồng
Sóng mênh mang trên bờ sâu thăm thẳm
Ru ta ngủ mặt đài gương biển lặng
Soi hồn ta cơn tuyệt vọng điên cuồng
Hải Đà (phỏng dịch)

5- Harmonie du soir
Voici venir le temps où vibrant sur sa tige
Chaque fleur s'évapore ainsi qu'un encensoir;
Les sons et les parfums tournent dans l'air du soir;
Valse mélancolique et langoureux vertige!
Chaque fleur s'évapore ainsi qu'un encensoir;
Le violon frémit comme un coeur qu'on afflige;
Valse mélancolique et langoureux vertige!
Le ciel est triste et beau comme un grand reposoir.
Le violon frémit comme un coeur qu'on afflige,
Un coeur tendre, qui hait le néant vaste et noir!
Le ciel est triste et beau comme un grand reposoir;
Le soleil s'est noyé dans son sang qui se fige.
Un coeur tendre, qui hait le néant vaste et noir,
Du passé lumineux recueille tout vestige!
Le soleil s'est noyé dans son sang qui se fige...
Ton souvenir en moi luit comme un ostensoir!
Charles Baudelaire
Khúc Chiều Tà
Kìa .. run rẩy trên cành xanh tha thướt
Những bông hoa kiều diễm ngát thơm nhang
Muôn tiếng động giữa trời hương lồng lộng
Điệu valse buồn xây xẩm ngực râm ran
Từng cánh hoa như hương trầm tỏa ngát
Tiếng vĩ cầm run khẽ thắt tim đau
Thân mệt lả điệu valse buồn xơ xác
Chiếc bình hương lộng lẫy đẹp khung sầu
Quặn tim đau tiếng vĩ cầm khe khẽ
Trái tim mềm oán hận cảnh hư vô
Trời ủ rũ trên bình hương bát ngát
Ánh dương tàn trong giọt máu đông khô
Cõi hư không trái tim mềm oán ghét
Vết tích tìm trong quá khứ lung linh
Dòng máu đông từ mặt trời đã lặn
Bình thánh linh rực rỡ chuyện đôi mình
Hải Đà (phỏng dịch)

6- Tristesses de la Lune
Ce soir, la lune rêve avec plus de paresse;
Ainsi qu'une beauté, sur de nombreux coussins,
Qui d'une main distraite et légère caresse
Avant de s'endormir le contour de ses seins,
Sur le dos satiné des molles avalanches,
Mourante, elle se livre aux longues pâmoisons,
Et promène ses yeux sur les visions blanches
Qui montent dans l'azur comme des floraisons.
Quand parfois sur ce globe, en sa langueur oisive,
Elle laisse filer une larme furtive,
Un poète pieux, ennemi du sommeil,
Dans le creux de sa main prend cette larme pâle,
Aux reflets irisés comme un fragment d'opale,
Et la met dans son coeur loin des yeux du soleil.
Trăng Buồn
Đêm hôm ấy trăng mơ màng uể oải
Gối chăn êm xinh đẹp dáng ngây thơ
Dịu dàng quá bàn tay nàng lơ đãng
Ngực căng tròn ve vuốt bước vào mơ
Lưng trắng mịn qua bao mùa tuyết phủ
Trong từng cơn hấp hối vẫn hoài trông
Từ đôi mắt cuồng điên màu bạch nguyệt
Vút trời cao chất ngất nở đầy bông
Trên thế gian những đôi khi nhàn nhã
Âm thầm rơi giọt lệ khóc mưa ròng
Một thi sĩ tâm đồng… thao thức nhớ
Đưa tay mình hứng lệ tái tê lòng
Màu phản chiếu lung linh như ngọc bích
Dấu trong tim xa vắng ánh dương hồng …
Hải Đà (phỏng dịch)

7- L'Âme du Vin

Un soir, l'âme du vin chantait dans les bouteilles:
”Homme, vers toi je pousse, ô cher déshérité,
Sous ma prison de verre et mes cires vermeilles,
Un chant plein de lumière et de fraternité!
Je sais combien il faut, sur la colline en flamme,
De peine, de sueur et de soleil cuisant
Pour engendrer ma vie et pour me donner l'âme;
Mais je ne serai point ingrat ni malfaisant,
Car j'éprouve une joie immense quand je tombe
Dans le gosier d'un homme usé par ses travaux,
Et sa chaude poitrine est une douce tombe
Où je me plais bien mieux que dans mes froids caveaux.
Entends-tu retentir les refrains des dimanches
Et l'espoir qui gazouille en mon sein palpitant?
Les coudes sur la table et retroussant tes manches,
Tu me glorifieras et tu seras content;
J'allumerai les yeux de ta femme ravie;
A ton fils je rendrai sa force et ses couleurs
Et serai pour ce frêle athlète de la vie
L'huile qui raffermit les muscles des lutteurs.
En toi je tomberai, végétale ambroisie,
Grain précieux jeté par l'éternel Semeur,
Pour que de notre amour naisse la poésie
Qui jaillira vers Dieu comme une rare fleur !”
Charles Baudelaire
Hồn Rượu
Một chiều hồn rượu hát ca vang
Gửi người cô thế, kẻ gian nan
Từ nơi ngục kiếng viền xi đỏ
Rực sáng bài ca nghĩa bạn vàng
Trên đồi rực lửa tốn bao công
Nắng vã mồ hôi ướt chảy ròng
Sinh sản hồn ta, đời sống mới
Ta không bất nhẫn, bạc ơn lòng
Sung sướng là bao lúc rót vào
Tràn nơi cuống họng kẻ cần lao
Êm đềm ngực ấm là ngôi mộ
Thoát chốn hầm sâu lạnh xiết bao
Chủ nhật ngồi nghe điệp khúc vui
Phập phồng hy vọng ngực chơi vơi
Xắn tay áo dựa trên bàn rượu
Ta được vinh danh, thỏa mãn người
Đôi mắt vợ ngươi thắp sáng ngời
Con người khoẻ mạnh sắc hồng tươi
Cho chàng lực sĩ dầu xoa bóp
Bắp thịt phồng căng đấu đã đời
Cao lương mỹ vị rước ta vào
Hạt giống vĩnh hằng được ném trao
Lộng lẫy tình ta thơ nở rộ
Đoá hoa kỳ diệu ngút trời cao
Hải Đà (phỏng dịch)

8- Recueillement
Sois sage, ô ma Douleur, et tiens-toi plus tranquille.
Tu réclamais le Soir; il descend; le voici:
Une atmosphère obscure enveloppe la ville,
Aux uns portant la paix, aux autres le souci.
Pendant que des mortels la multitude vile,
Sous le fouet du Plaisir, ce bourreau sans merci,
Va cueillir des remords dans la fête servile,
Ma Douleur, donne-moi la main; viens par ici,
Loin d'eux. Vois se pencher les défuntes Années,
Sur les balcons du ciel, en robes surannées;
Surgir du fond des eaux le Regret souriant;
Le Soleil moribond s'endormir sous une arche,
Et, comme un long linceul trainant à l'Orient,
Entends, ma chère, entends la douce Nuit qui marche.
Charles Baudelaire
Tĩnh Tâm
Em Đau Khổ, hãy bình tâm ngoan ngoãn
Đang xuống đây, chầm chậm.. buổi chiều mong
Trên thành phố màn trời đen phủ kín
Người lo âu, kẻ khác thấy an lòng
Trong đám đông hèn hạ kẻ phàm nhân
Tên đao phủ với làn roi Khoái Lạc
Hái ăn năn trong đám hội đê hèn
Em Đau Khổ đưa bàn tay tôi dắt
Lánh xa đi ! Năm tháng đã phai tàn
Khung trời cao, nghiêng mình trong áo cũ
Đáy sông lên, Ân Hận mỉm cười khan
Dưới cầu cong, Mặt Trời đang hấp hối
Từ phương Đông dài liệm chiếc khăn tang
Em yêu dấu, đêm vàng đang khẽ bước …
Hải Đà (phỏng dịch)

9- Elévation
Au-dessus des étangs, au-dessus des vallées,
Des montagnes, des bois, des nuages, des mers,
Par delà le soleil, par delà les éthers,
Par delà les confins des sphères étoilées,
Mon esprit, tu te meus avec agilité,
Et, comme un bon nageur qui se pâme dans l'onde,
Tu sillonnes gaiement l' immensité profonde
Avec une indicible et mâle volupté.
Envole-toi bien loin de ces miasmes morbides;
Va te purifier dans l'air supérieur,
Et bois, comme une pure et divine liqueur,
Le feu clair qui remplit les espaces limpides.
Derrière les ennuis et les vastes chagrins
Qui chargent de leur poids l'existence brumeuse,
Heureux celui qui peut d'une aile vigoureuse
S'élancer vers les champs lumineux et sereins;
Celui dont les pensers, comme des alouettes,
Vers les cieux le matin prennent un libre essor,
Qui plane sur la vie, et comprend sans effort
Le langage des fleurs et des choses muettes!
Charles Baudelaire
Lên Cao
Bay trên hồ ao, bay qua lũng thấp
Bay trên núi rừng, biển cả, mây cao
Vưọt thinh không, qua mặt trời rạng rỡ
Đến tận cùng lấp lánh những vì sao
Nhanh nhẹn quá, tâm hồn ta chuyển động
Như người bơi ngây ngất sóng trùng khơi
Hồn sâu thẳm ngươi cười reo, ngang dọc
Trong niềm vui sức sống khó nên lời
Bay thật xa, thoát nơi nầy chướng khí
Cuối tầng mây thanh khiết xác thân mình
Hãy uống đi, ly rượu thần trong sạch
Lấp lánh đầy lửa sáng cõi quang minh
Dấu lòng đau, suy tư buồn não nuột
Cuộc trần ai kiếp sống nặng nề mang
Đôi cánh khỏe cho người nhiều may mắn
Vút lao mình về phía cánh đồng quang
Kẻ trầm ngâm như loài chim chiền chiện
Sớm mai hồng vút cánh tít trời xa
Bay trên đời cho lòng mau thấu hiểu
Lặng câm buồn: ngôn ngữ của loài hoa
Hải Đà (phỏng dịch)

10- La Fontaine de Sang

Il me semble parfois que mon sang coule à flots,
Ainsi qu’une fontaine aux rythmiques sanglots.
Je l'entends bien qui coule avec un long murmure,
Mais je me tâte en vain pour trouver la blessure.
A travers la cité, comme dans un champ clos,
Il s'en va, transformant les pavés en ilots,
Désaltérant la soif de chaque créature,
Et partout colorant en rouge la nature.
J'ai demandé souvent à des vins captieux
D'endormir pour un jour la terreur qui me mine;
Le vin rend l'oeil plus clair et l'oreille plus fine!
J'ai cherché dans l'amour un sommeil oublieux;
Mais l'amour n'est pour moi qu’un matelas d'aiguilles
Fait pour donner à boire à ces cruelles filles!
Charles Baudelaire
Suối Máu
Những lúc thấy máu mình tuôn xối xả
Tiếng nấc đều theo nhịp suối thở than
Nghe máu chảy tiếng thầm thì dai dẳng
Ráng công tìm chẳng thấy vết thương mang
Quanh con phố như đồng hoang kín mít
Nổi trên đường đảo nhỏ ...máu trôi mau
Muôn sinh vật đón mừng cơn dịu khát
Sắc đỏ tươi tạo hoá thắm tô màu
Ta thỉnh cầu những chai vang xảo quyệt
Xoa dịu ta ngày sợ hãi xanh người
Chất rượu làm mắt tinh thêm tai thính
Tìm tình yêu trong giấc ngủ quên đời
Tấm nệm Tình cho ta đầy gai nhọn
Hỡi cô nàng tàn nhẫn .. rượu ta mời
Hải Đà (phỏng dịch)

11- Spleen
Quand le ciel bas et lourd pèse comme un couvercle
Sur l'esprit gémissant en proie aux longs ennuis,
Et que de l'horizon embrassant tout le cercle
Il nous verse un jour noir plus triste que les nuits ;
Quand la terre est changée en un cachot humide,
Où l'Espérance, comme une chauve-souris,
S'en va battant les murs de son aile timide
Et se cognant la tête à des plafonds pourris ;
Quand la pluie étalant ses immenses trainées
D'une vaste prison imite les barreaux,
Et qu'un peuple muet d'infâmes araignées
Vient tendre ses filets au fond de nos cerveaux,
Des cloches tout à coup sautent avec furie
Et lancent vers le ciel un affreux hurlement,
Ainsi que des esprits errants et sans patrie
Qui se mettent à geindre opiniâtrement.
- Et de longs corbillards, sans tambours ni musique,
Défilent lentement dans mon âme; l'Espoir,
Vaincu, pleure, et l'Angoisse atroce, despotique,
Sur mon crâne incliné plante son drapeau noir.
Charles Baudelaire
Chán Đời
Trời trũng thấp như chiếc vung nặng trĩu
Đè lên hồn rền rĩ nỗi buồn dai
Xiết vòng quanh là chân trời vây kín
Rót ngày đen sầu thảm hơn đêm dài
Mặt đất biến thành nhà tù ẩm thấp
Nơi chốn mà Cuồng Vọng tựa cánh dơi
Bức tường ngăn rụt rè đôi cánh đập
Chạm đầu va trần mục nát tả tơi
Từng vạt lớn cơn mưa tràn vung vãi
Tựa khung tù song sắt rộng thênh thang
Ghê gớm quá lặng câm nhìn đàn nhện
Tận óc mình thả lưới bủa vây giăng
Trong bất chợt cỗ chuông reo phẩn nộ
Thất kinh người tiếng hú vọng lên trời
Không tổ quốc tựa linh hồn lang bạt
Phàn nàn than dai dẳng chẳng ngừng thôi
Đoàn xe tang chạy dài không chiêng trống
Qua hồn tôi bước chậm.. Hy Vọng tàn …
Òa lên khóc, Kinh Hoàng và áp chế
Trên đầu tôi nghiêng gục cắm cờ đen ..
Hải Đà (phỏng dịch)

12- La cloche fêlée
Il est amer et doux, pendant les nuits d'hiver,
D'écouter, près du feu qui palpite et qui fume,
Les souvenirs lointains lentement s'élever
Au bruit des carillons qui chantent dans la brume.
Bienheureuse la cloche au gosier vigoureux
Qui, malgré sa vieillesse, alerte et bien portante,
Jette fidèlement son cri religieux,
Ainsi qu'un vieux soldat qui veille sous la tente!
Moi, mon âme est fêlée, et lorsqu'en ses ennuis
Elle veut de ses chants peupler l'air froid des nuits,
Il arrive souvent que sa voix affaiblie
Semble le râle épais d'un blessé qu’on oublie
Au bord d'un lac de sang, sous un grand tas de morts
Et qui meurt, sans bouger, dans d'immenses efforts.
Charles Baudelaire

Chuông Rạn Vỡ
Đêm đông lạnh, ôi dịu dàng cay đắng
Ngồi bâng khuâng khói lửa chập chờn bay
Từ xa xưa nghe dâng tràn kỷ niệm
Tiếng chuông rung hát giữa khói sương dầy
Ôi sung sướng! chuông kêu rền khan cổ
Mặc già nua, nhanh nhẹn sống lâu bền
Lời kính cẩn trung thành vang tiếng gọi
Như lính già canh thức giữa lều đêm
Trong phiền muộn linh hồn tôi rạn nứt
Đêm giá băng tiếng hát muốn len vào
Kìa giọng nói thất thường rên yếu ớt
Tựa thương binh quên lãng thở thều thào
Bên hồ máu, dưới thi hài chất đống
Gắng chết mòn chẳng nghe tiếng động nào
Hải Đà (phỏng dịch)

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Người và biển

                                            Charles Baudelaire

Free-Nature-Sunset-Wallpaper

L'homme et la mer

Người và biển (Người dịch: Vũ Quần Phương)

Homme libre, toujours tu chériras la mer!
La mer est ton miroir, tu contemples ton âme
Dans le déroulement infini de sa lame
Et ton esprit n'est pas un gouffre moins amer.

Tu te plais a plonger au sein de ton image;
Tu l'embrasses des yeux et des bras, et ton coeur
Se distrait quelquefois de sa propre rumeur
Au bruit de cette plainte indomptable et sauvage.

Vous êtes tous les deux ténébreux et discrets;
Homme, nul n'a sondé le fond de tes abîmes;
O mer, nul ne connaît tes richesses intimes,
Tant vous êtes jaloux de garder vos secrets!

Et cependant voilà des siècles innombrables
Que vous vous combattez sans pitié ni remords,
Tellement vous aimez le carnage et la mort,
O lutteurs éternels, O frères implacables!

Hỡi con người tự do, luôn luôn thân thiết biển
Biển là gương để ngươi ngắm hồn mình
Trên trang sóng trải vào xa thẳm
Tâm linh người cũng cay đắng mù tăm

Người mê say ngụp trong chính bóng mình
Mắt say đắm và tay luôn ve vuốt
Lòng dịu êm khi người nghe biển hát
Tiếng than van, bướng bỉnh, bạo tàn

Người và biển đều tối tăm bí ẩn
Không ai hay được đáy thẳm lòng người
Không ai biết những kho tàng dạ biển
Hai phía thi nhau cửa đóng then cài

Nhưng mà sao bao thế kỷ trôi qua
Người và biển vẫn giao tranh không dứt
Thích tàn bạo và say mê chết chóc
Cuộc tử sinh huynh đệ đời đời

Người ở gái có tâm hồn cao cả mà em vẫn ghen

Người ở gái có tâm hồn cao cả mà em vẫn ghen     : Charles Baudelaire

Beauty-of-nature-random-4884759-1280-800

La servante au grand cœur dont vous étiez jalouse

Người ở gái có tâm hồn cao cả mà em vẫn ghen (Người dịch: Vũ Đình Liên)

La servante au grand cœur dont vous étiez jalouse,
Et qui dort son sommeil sous une humble pelouse,
Nous devrions pourtant lui porter quelques fleurs.
Les morts, les pauvres morts, ont de grandes douleurs,
Et quand Octobre souffle, émondeur des vieux arbres,
Son vent mélancolique à l’entour de leurs marbres,
Certe, ils doivent trouver les vivants bien ingrats,
À dormir, comme ils font, chaudement dans leurs draps,
Tandis que, dévorés de noires songeries,
Sans compagnon de lit, sans bonne causeries,
Vieux squelettes gelés travaillés par le ver,
Ils sentent s’égoutter les neiges de l’hiver
Et le siècle couler, sans qu’amis ni famille
Remplacent les lambeaux qui pendent à leur grille.

Lorsque la bûche siffle et chante, si le soir,
Calme, dans le fauteuil je la voyais s’asseoir,
Si, par une nuit bleue et froide de décembre,
Je la trouvais tapie en un coin de ma chambre,
Grave, et venant du fond de son lit éternel
Couver l’enfant grandi de son œil maternel,
Que pourrais-je répondre à cette âme pieuse,
Voyant tomber des pleurs de sa paupière creuse ?

Người ở gái có tâm hồn cao cả mà em vẫn ghen
Đang yên giấc ngàn thu dưới nấm cỏ xanh êm
Hôn nay đáng lẽ chúng ta phải mang một bó hoa viếng mộ
Những người chết rồi thương ôi! Còn nhiều đau khổ
Khi tháng giá ngày đông, người thợ xén cây già
Hiu hắt gió buồn vờn quanh nắp đá mộ hoa
Chắc người chết cũng thấy người sống chúng ta bội bạc
Ngủ ngon lành trong nệm chăn ấm áp
Còn họ thì đầu nặng trĩu những giấc mơ buồn
Không bạn chung giường, không ai kể chuyện hàm ơn
Lạnh buốt xương già, sâu bọ đêm ngày đục khoét
Cảm thấy trên mình rỉ từng giọt tuyết
Và ngày tháng trôi qua, không bạn hữu họ hàng
Thay những vành hoa héo rũ trên nấm mồ hoang

Khi thanh củi khô reo ca trong đêm vắng
Nếu tôi thấy người về, ngồi trong phố yên lặng
Hay một đêm tháng chạp, xanh thẳm lạnh lùng
Tôi thấy người về ngồi ở góc phòng
Từ tấm gương ngàn thu trở về nghiêm nghị
Ấp ủ trong đôi mắt hiền người mẹ
Đứa trẻ ngày xưa nay đã lớn khôn
Tôi biết nói gì đây với một linh hồn
Khi dòng lệ tuôn rơi, từ đôi mắt người trống rỗng.


 

 

Gửi Emma (Friedrich Schiller)

scenic-wallpaper-3

An Emma

Gửi Emma (Người dịch: thanhbinh82_tp)

Weit in nebelgrauer Ferne
Liegt mir das vergangne Glück,
Nur an einem schönen Sterne
Weilt mit Liebe noch der Blick;
Aber, wie des Sternes Pracht,
Ist es nur ein Schein der Nacht.

Deckte dir der lange Schlummer,
Dir der Tod die Augen zu,
Dich besäße doch mein Kummer,
Meinem Herzen lebtest du.
Aber, ach! du lebst im Licht,
Meiner Liebe lebst du nicht.

Kann der Liebe süß Verlangen,
Emma, kann's vergänglich sein?
Was dahin ist und vergangen,
Emma, kann's die Liebe sein?
Ihrer Flamme Himmelsgluth -
Stirbt sie wie ein irdisch Gut?

Cuối chân trời một đám mây xám
Đã trôi qua cùng với những niềm vui
Những ánh mắt yêu thương say đắm lòng người
Chỉ có được ở một ngôi sao đẹp
Sự lộng lẫy của ngôi sao ấy
Cũng chỉ là hào nhoáng của bóng đêm

Giấc ngủ có che chở nổi em
Cái chết có che nổi mắt em
Còn tôi luôn luôn lo lắng
Khi em sống trong tim tôi
Nhưng em lại chọn lối sống của sự hào nhoáng kia
Mà từ chối sự sống trong tình yêu của tôi.

Tình yêu có thể nào đòi hỏi sự ngọt ngào không em?
Emma ơi, tình yêu có thể nào trôi qua như vậy không em?
Mọi thứ đến rồi đi bất chợt
Emma ơi, đó chính là tình yêu sao em?
Khi ngọn lửa tình yêu đã đốt cháy bầu trời
Liệu có khi nào tình yêu lịm chết như những người dưới đất kia không?

Cô bé từ nơi lạ (Friedrich Schiller)

300_221773

Das Mädchen aus der Fremde

Cô bé từ nơi lạ (Người dịch: Trần Đương)

In einem Thal bei armen Hirten
Erschien mit jedem jungen Jahr,
Sobald die ersten Lerchen schwirrten,
Ein Mädchen, schön und wunderbar.

Sie war nicht in dem Thal geboren,
Man wußte nicht, woher sie kam;
Und schnell war ihre Spur verloren,
Sobald das Mädchen Abschied nahm.

Beseligend war ihre Nähe,
Und alle Herzen wurden weit;
Doch eine Würde, eine Höhe
Entfernte die Vertraulichkeit.

Sie brachte Blumen mit und Früchte,
Gereift auf einer andern Flur,
In einem andern Sonnenlichte,
In einer glücklichern Natur.

Und theilte Jedem eine Gabe,
Dem Früchte, Jenem Blumen aus;
Der Jüngling und der Greis am Stabe,
Ein jeder ging beschenkt nach Haus.

Willkommen waren alle Gäste;
Doch nahte sich ein liebend Paar,
Dem reichte sie der Gaben beste,
Der Blumen allerschönste dar.

Trong thung lũng những người nghèo khổ
Cứ vào xuân, chim hót vang trời
Tôi lại thấy một em gái nhỏ
Hiện về đây, xinh đẹp tuyệt vời.

Quê hương em là đâu, chẳng rõ
Thung lũng xanh nào phải chốn ra đời?
Dấu chân em, khi mờ khi lại tỏ
Lúc chia tay, em để lại nụ cười.

Khi gần em, những trái tim trai trẻ
Đập rộn ràng vì rất đỗi mê em
Họ bỗng thấy: sao em xa lạ thế
Cứ hiện về, lại biến, tựa nàng tiên!

Em mang đến nào hoa tươi quả ngọt
Hương ngọt ngào... em hái tựa bờ xa
Ánh nắng toả trời xanh cao chót vót
Ôi thiên nhiên kiều diễm của quê nhà!

Quà em đấy - hoa tươi và quả ngọt
Em mang chia đều khắp mọi người
Già đến trẻ, không một ai bị sót
Bàn tay em thơm thảo nặng tình đời.

Ai cũng được em yêu và em quý
Nhưng quý yêu hơn cả cặp tình nhân
Họ sung sướng trong tình yêu giản dị
Với hoa em đẹp nhất, nở trong ngần...

Lên cao (Charles Baudelaire, Pháp)


Elévation
Lên cao (Người dịch: Hải Đà)
Au-dessus des étangs, au-dessus des vallées, 
Des montagnes, des bois, des nuages, des mers, 
Par delà le soleil, par delà les éthers, 
Par delà les confins des sphères étoilées, 

Mon esprit, tu te meus avec agilité, 
Et, comme un bon nageur qui se pâme dans l'onde, 
Tu sillonnes gaiement l' immensité profonde 
Avec une indicible et mâle volupté. 

Envole-toi bien loin de ces miasmes morbides; 
Va te purifier dans l'air supérieur, 
Et bois, comme une pure et divine liqueur, 
Le feu clair qui remplit les espaces limpides. 

Derrière les ennuis et les vastes chagrins 
Qui chargent de leur poids l'existence brumeuse, 
Heureux celui qui peut d'une aile vigoureuse 
S'élancer vers les champs lumineux et sereins; 

Celui dont les pensers, comme des alouettes, 
Vers les cieux le matin prennent un libre essor, 
Qui plane sur la vie, et comprend sans effort 
Le langage des fleurs et des choses muettes!
Bay trên hồ ao, bay qua lũng thấp 
Bay trên núi rừng, biển cả, mây cao 
Vượt thinh không, qua mặt trời rạng rỡ 
Đến tận cùng lấp lánh những vì sao 

Nhanh nhẹn quá, tâm hồn ta chuyển động 
Như người bơi ngây ngất sóng trùng khơi 
Hồn sâu thẳm ngươi cười reo, ngang dọc 
Trong niềm vui sức sống khó nên lời 

Bay thật xa, thoát nơi nầy chướng khí 
Cuối tầng mây thanh khiết xác thân mình 
Hãy uống đi, ly rượu thần trong sạch 
Lấp lánh đầy lửa sáng cõi quang minh 

Dấu lòng đau, suy tư buồn não nuột 
Cuộc trần ai kiếp sống nặng nề mang 
Đôi cánh khỏe cho người nhiều may mắn 
Vút lao mình về phía cánh đồng quang 

Kẻ trầm ngâm như loài chim chiền chiện 
Sớm mai hồng vút cánh tít trời xa 
Bay trên đời cho lòng mau thấu hiểu 
Lặng câm buồn: ngôn ngữ của loài hoa









Tiếng nói (Charles Baudelaire, Pháp)

1383-1

La voix

Tiếng nói (Người dịch: Đỗ Tiến Hiển)

Mon berceau s'adossait à la bibliothèque,
Babel sombre, où roman, science, fabliau,
Tout, la cendre latine et la poussière grecque,
Se mêlaient. J'était haut comme un in-folio.
Deux voix me parlaient. L'une, insidieuse et ferme,
Disait: «La Terre est un gâteau plein de douceur;
Je puis (et ton plaisir serait alors sans terme!)
Te faire un appétit d'une égale grosseur.»
Et l'autre: «Viens! oh! viens voyager dans les rêves,
Au delà du possible, au delà du connu!»
Et celle-là chantait comme le vent des grèves,
Fantôme vagissant, on ne sait d'où venu,
Qui caresse l'oreille et cependant l'effraie.
Je te répondis: «Oui! douce voix!» C'est d'alors
Que date ce qu'on peut, hélas! nommer ma plaie
Et ma fatalité. Derrière les décors
De l'existence immense, au plus noir de l'abîme,
Je vois distinctement des mondes singuliers,
Et, de ma clairvoyance extatique victime,
Je traîne des serpents qui mordent mes souliers.
Et c'est depuis ce temps que, pareil aux prophètes,
J'aime si tendrement le désert et la mer;
Que je ris dans les deuils et pleure dans les fêtes,
Et trouve un goût suave au vin le plus amer;
Que je prends très souvent les faits pour des mensonges,
Et que, les yeux au ciel, je tombe dans des trous.
Mais la voix me console et dit: «Garde tes songes:
Les sages n'en ont pas d'aussi beaux que les fous!»

Nơi tôi nằm, tựa lưng tủ sách
Tháp sầm u, truyện, khoa học, chuyện thơ
Tro xám Latinh lẫn bụi vàng Hi Lạp
Tôi cao tầm pho sách rộng, trang to

Hai giọng bảo tôi. Một phỉnh phờ, chắc chắn
Trái đất này như chiếc bánh ngọt ngon
Ta có thể (chắc là ngươi thích lắm)
Thoả mãn ngươi một bữa, bụng căng tròn
Tiếng kia gọi: Đến đây! Đến du hành trong mộng
Tận bên kia cõi đã biết, đã quen
Tiếng ấy hát như gió làu bãi trống
Tiếng tiểu nhi kêu khóc tự đâu lên
Ve vuốt bên tai, nhưng làm sợ hãi
Tôi trả lời "Vâng!" hơi tiếng dịu dàng

Bắt đầu tính những ngày! Từ dấy
Gọi đích danh những bất hạnh, đau thương
Nơi tối tăm vực đen sâu thẳm
Cuộc sống bao la, sau trần thiết huy hoàng
Có biết bao những con người dị dạng
Mắt tôi trông và phân biệt rõ ràng
Từ sự tinh khôn nạn nhân mê đắm
Tôi kéo theo lũ rắn quấn giày tôi
Và từ ấy, tôi như nhà truyền Sấm
Thiết tha yêu sa mạc, biển khơi
Cười giữa đám tang, khóc trong ngày hội
Ly rượu đắng cay tôi thấy ngọt ngào
Cho sự thật là những điều giả dối
Thân tõm dưới mồ, nhưng mắt tận trời cao

Tiếng nói vẳng bên tai, an ủi tôi và nói:
Hãy giữ gìn những mộng tưởng trong đầu
Ý nghĩ người Hiền, mộng thằng điên dại
Đem so vào chưa chắc đẹp hơn đâu!


Abel và Caïn (Charles Baudelaire, Pháp)

Abraham4

Abel et Caïn

Abel và Caïn (Người dịch: Vũ Đình Liên)

I

Race d'Abel, dors, bois et mange;
Dieu te sourit complaisamment.

Race de Caïn, dans la fange
Rampe et meurs misérablement.

Race d'Abel, ton sacrifice
Flatte le nez du Séraphin!

Race de Caïn, ton supplice
Aura-t-il jamais une fin?

Race d'Abel, vois tes semailles
Et ton bétail venir à bien;

Race de Caïn, tes entrailles
Hurlent la faim comme un vieux chien.

Race d'Abel, chauffe ton ventre
À ton foyer patriarcal;

Race de Caïn, dans ton antre
Tremble de froid, pauvre chacal!

Race d'Abel, aime et pullule!
Ton or fait aussi des petits.

Race de Caïn, coeur qui brûle,
Prends garde à ces grands appétits.

Race d'Abel, tu croîs et broutes
Comme les punaises des bois!

Race de Caïn, sur les routes
Traîne ta famille aux abois.


II

Ah! race d'Abel, ta charogne
Engraissera le sol fumant!

Race de Caïn, ta besogne
N'est pas faite suffisamment;

Race d'Abel, voici ta honte:
Le fer est vaincu par l'épieu!

Race de Caïn, au ciel monte,
Et sur la terre jette Dieu!

I

Nòi giống Abel hãy ngủ ngon và ăn uống no say
Chúa trời đầy cảm tình cười với chúng bay

Nòi giống Caïn trong bùn lầy nước bẩn
Hãy lê la và chết dần chết mòn khốn nạn

Nòi giống Abel, rượu ngon thịt sống bày dâng
Hương vị thơm tho làm nở mùi thiên thần

Nòi giống Caïn hình tội các ngươi chịu đựng
Có ngày nào hết chăng hay vô cùng vô tận

Nòi giống Abel hãy xem đó mùa màng
Và bò ngựa của bay béo tốt, chín vàng

Nòi giống Caïn, gan ruột ngươi la thét
Gào đói như con chó già sắp chết

Nòi giống Abel hãy sưởi cái bụng phệ của bay
Bên lò sưởi gia đình, con cháu sum vầy

Nòi giống Caïn trong hang sâu gió rít
Hãy run lên, con chó ngao ăn thịt chết

Nòi giống Abel hãy lấy nhau và nảy nở sinh sôi
Vàng của bay cũng sinh con đẻ cái như người

Nòi giống Caïn, trái tim cháy bỏng
Các ngươi hãy phòng ngừa ước ao khát vọng

Nòi giống Abel hãy ngốn cỏ và lớn nhanh
Như những đàn rận rệp của rừng xanh

Nòi giống Caïn lang thang trên đường cái
Hãy tha vợ, tha con ngươi, đói nghèo, kinh hãi


II

Nhưng mà ôi! Nòi giống Abel xác thời chẳng bay
Sẽ làm phân bón cho ruộng đất một ngày

Nòi giống Caïn, bàn tay lao động
Của các người chưa làm vừa, làm đúng

Nòi giống Abel, đây là cái nhục chúng bay
Cái gậy đi săn đã đánh bại lưỡi cày

Nòi giống Caïn hãy chiếm cả bầu trời cao ngất
Hãy lên trời và vất chúa trời xuống đất

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013

Chiếc áo bào (Victor Hugo, Pháp)

484e9526_257049

Le Manteau impérial

Chiếc áo bào (Người dịch: Phùng Văn Tửu)

Oh! vous dont le travail est joie, 
Vous qui n’avez pas d’autre proie 
Que les parfums, souffles du ciel, 
Vous qui fuyez quand vient décembre, 
Vous qui dérobez aux fleurs l’ambre 
Pour donner aux hommes le miel, 

Chastes buveuses de rosée, 
Qui, pareilles à l’épousée, 
Visitez le lys du coteau, 
Ô sœurs des corolles vermeilles, 
Filles de la lumière, abeilles, 
Envolez-vous de ce manteau! 

Ruez-vous sur l’homme, guerrières! 
Ô généreuses ouvrières, 

Vous le devoir, vous la vertu, 
Ailes d’or et flèches de flamme, 
Tourbillonnez sur cet infâme! 
Dites-lui: «Pour qui nous prends-tu? 

»Maudit! nous sommes les abeilles! 
Des chalets ombragés de treilles 
Notre ruche orne le fronton; 
Nous volons, dans l’azur écloses, 
Sur la bouche ouverte des roses 
Et sur les lèvres de Platon. 

»Ce qui sort de la fange y rentre. 
Va trouver Tibère en son antre, 
Et Charles neuf sur son balcon. 
Va! sur ta pourpre il faut qu’on mette, 
Non les abeilles de l’Hymette, 
Mais l’essaim noir de Montfaucon!» 

Et percez-le toutes ensemble, 
Faites honte au peuple qui tremble, 
Aveuglez l’immonde trompeur, 
Acharnez-vous sur lui, farouches, 
Et qu’il soit chassé par les mouches 
Puisque les hommes en ont peur!

Ồ! các em mà lao động là vui 
Các cô em không kiếm mồi nào khác 
Ngoài hương thơm, hơi thở của trời 
Tháng chạp về, các em đi trốn 
Hổ phách của hoa, các em lấy trộm 
Để làm mật ngọt cho người 

Các cô em trong trắng hút sương mai 
Ong ơi ong, giống cô dâu mới cưới 
Ong đi thăm hoa huệ trên đồi 
Là con của ánh dương phơi phới 
Là em gái những cánh hoa đỏ chói 
Rời bỏ áo bào, ong hãy xa bay! 

Xông vào hắn đi, hỡi ong chiến sĩ 
Ôi các cô thợ hảo tâm 
Nghĩa vụ, các em, đức hạnh, các em 
Bộ cánh vàng và mũi tên rực lửa 
Hãy xoáy tít trên đầu thằng nhục nhã 
Hãy bảo hắn: "Mi nghĩ ta là ai? 

"Ta là ong! hỡi tên khốn kiếp! 
Tổ của ta rợp bóng giàn nho 
Làm đẹp cho các mí nhà nên thơ 
Chúng ta bay, trong trời xanh, bừng nở 
Trên miệng những đoá hồng hé mở 
Vàg trên môi Platon 

"Mi hãy tìm Charles IX trên ban công 
Và đến với Tibère trong hang tối 
Từ bùn thối, phải trở về bùn thối 
Cần thêu lũ quạ đen Montfaucon 
Chứ không phải bầy Hymette ong vàng 
Trên áo mi màu đỏ tía!" 

Hãy nhất tề đâm hắn đi, ong 
Hãy làm cho những kẻ nhát gan xấu hổ 
Hãy lăn xả vào, hung dữ 
Hãy chọc mù tên lừa đảo nhớp nhơ 
Hắn phải bị ong ruồi tống cổ đi 
Bởi vì con người run sợ!


Ái tình và sọ người (Charles Baudelaire, Pháp)

thanksgiving_sunset

L'amour et le crâne

Ái tình và sọ người (Người dịch: Vũ Đình Liên)

L'Amour est assis sur le crâne 
De l'Humanité, 
Et sur ce trône le profane, 
Au rire effronté, 

Souffle gaiement des bulles rondes 
Qui montent dans l'air, 
Comme pour rejoindre les mondes 
Au fond de l'éther. 

Le globe lumineux et frêle 
Prend un grand essor, 
Crève et crache son âme grêle 
Comme un songe d'or. 

J'entends le crâne à chaque bulle 
Prier et gémir: 
— «Ce jeu féroce et ridicule, 
Quand doit-il finir? 

Car ce que ta bouche cruelle 
Eparpille en l'air, 
Monstre assassin, c'est ma cervelle, 
Mon sang et ma chair!»

Ái tình ngồi trên cái sọ 
Của loài người 
Và trên ngai vàng ấy, vị thần tà đạo 
Với cái miệng cười trâng tráo 

Nhí nhảnh thổi 
những bong bóng lên trời 
Như để bay lên tận những nơi xa tắp 
Gặp những bầu trời, trái đất 

Các bong bóng mỏng manh long lanh sáng óng 
Bay vút lên trời nổ 
Và cả linh hồn nhẹ nhàng 
Tan như một giấc mơ vàng 

Ta nghe thấy cái sọ người 
mỗi khi bay lên một bong bóng 
Rên xiết, van xin: "Cái trò chơi khả ố và hung tàn 
Có bao giờ chấm dứt chăng? 

Vì những cái mà miệng người độc ác 
Ôi quái vật giết người 
thổi tan tác lên trời 
Là của ta, óc thịt, máu tươi!"


 

Lời than thở của Icare (Charles Baudelaire, Pháp)

231-8


Les plaintes d'un Icare

Lời than thở của Icare (Người dịch: Vũ Đình Liên)

Les amants des prostituées 
Sont heureux, dispos et repus; 
Quant à moi, mes bras sont rompus 
Pour avoir étreint des nuées. 

C'est grâce aux astres nonpareils, 
Qui tout au fond du ciel flamboient, 
Que mes yeux consumés ne voient 
Que des souvenirs de soleils. 

En vain j'ai voulu de l'espace 
Trouver la fin et le milieu; 
Sous je ne sais quel oeil de feu 
Je sens mon aile qui se casse; 

Et brûlé par l'amour du beau, 
Je n'aurai pas l'honneur sublime 
De donner mon nom à l'abîme 
Qui me servira de tombeau.

Những gã nhân tình của những cô gái điếm 
Thảy đều phè phỡn, hả hê, thoả mãn 
Còn ta, đôi cánh tay ta rã rời 
Vì ôm mãi những đám mây trời 

Chính vì nhìn những ngôi sao rực cháy 
Trên trời cao xa tít mù khơi 
Mà mắt ta sém bỏng rồi, chỉ thấy 
Hào quang xưa của những mặt trời 

Ta đã mất công muốn đo vũ trụ 
Tìm đâu tận cùng đâu chính giữa 
Nhưng có con mắt lửa nào rọi soi 
Cho đôi cánh ta, nóng chảy, rụng rời 

Lòng ta cháy vì khát khao cái đẹp 
Nhưng ta không được  cái vinh quang đặc biệt 
Để lai tim ta cho vực thẳm chôn vùi 
Thân hình ta dưới muôn lớp bể khơi


Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

Anh đã hái hoa này (Victor Hugo, Pháp)

429-1
Anh đã hái hoa này (Victor Hugo, Pháp)
J'ai cueilli cette fleur pour toi sur la colline

J'ai cueilli cette fleur pour toi sur la colline.
Dans l'âpre escarpement qui sur le flot s'incline,
Que l'aigle connaît seul et seul peut approcher,
Paisible, elle croissait aux fentes du rocher.
L'ombre baignait les flancs du morne promontoire ;
Je voyais, comme on dresse au lieu d'une victoire
Un grand arc de triomphe éclatant et vermeil,
À l'endroit où s'était englouti le soleil,
La sombre nuit bâtir un porche de nuées.
Des voiles s'enfuyaient, au loin diminuées ;
Quelques toits, s'éclairant au fond d'un entonnoir,
Semblaient craindre de luire et de se laisser voir.
J'ai cueilli cette fleur pour toi, ma bien-aimée.
Elle est pâle, et n'a pas de corolle embaumée,
Sa racine n'a pris sur la crête des monts
Que l'amère senteur des glauques goémons ;
Moi, j'ai dit: Pauvre fleur, du haut de cette cime,
Tu devais t'en aller dans cet immense abîme
Où l'algue et le nuage et les voiles s'en vont.
Va mourir sur un coeur, abîme plus profond.
Fane-toi sur ce sein en qui palpite un monde.
Le ciel, qui te créa pour t'effeuiller dans l'onde,
Te fit pour l'océan, je te donne à l'amour. -
Le vent mêlait les flots; il ne restait du jour
Qu'une vague lueur, lentement effacée.
Oh! comme j'étais triste au fond de ma pensée
Tandis que je songeais, et que le gouffre noir
M'entrait dans l'âme avec tous les frissons du soir !

Anh đã hái hoa này (Người dịch: Xuân Diệu)

Anh đã hái đoá hoa này trên đồi ấy cho em
Trong khoảng cheo leo nhìn xuống sóng nghiêng,
Mà chỉ có con diều biết rõ và tới được,
Giữa khe đá to bình yên hoa mọc.
Bóng tối dầm những sườn đá đìu hiu;
Anh nhìn thấy; như ở nơi mừng thắng trận
Một khải hoàn môn huy hoàng thắm đậm
Ở chốn kia mặt trời đã lặn chìm
Đêm dựng lên một cổng lớn mây chen.
Những cánh buồm bay ra xa, dần nhạt,
Dăm mái nhà dưới lũng sâu lát đác
Như sợ loé lên và sợ lộ mình.
- Anh đã hái hoa này, cho em của anh.
Hoa lọt lạt, mà cũng không thơm nữa,
Bởi rễ nó mọc ở trên vách đá
Chỉ hít mùi đằng đít của rong xanh.
Anh bảo thầm: -Hoa tội nghiệp! từ trên đỉnh gập ghềnh
Đáng lẽ em phải về nơi mênh mông vực thẳm
Mà rong với mây với buồm rong ruổi
Nhưng thôi em hãy chết trên một trái tim,
                             vực thẳm sâu hơn
Em hãy đến tàn trên ngực phập phồng
Trời sinh em ra để rã cánh vào sóng nước,
Trời uỷ em cho đại dương, ta uỷ em cho tình ái.
Gió khi ấy trộn các đầu sóng rối
Ngày chỉ còn một thoảng sáng dần phai
Ôi!trong đáy hồn anh buồn biết bao nhiêu
Anh nghĩ ngợi và vực đen trong lúc ấy
Vào giữa hồn anh cùng với vạn hơi chiều run rẩy!

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

Chiều, mùa gieo giống (Victor Hugo, Pháp)

rest-in-peace-my-friends-explored


Saison des semailles, le soir

Chiều, mùa gieo giống (Người dịch: Tố Hữu)

C'est le moment crépusculaire. 
J'admire, assis sous un portail, 
Ce reste de jour dont s'éclaire 
La dernière heure du travail. 

Dans les terres, de nuit baignées, 
Je contemple, ému, les haillons 
D'un vieillard qui jette à poignées 
La moisson future aux sillons. 

Sa haute silhouette noire 
Domine les profonds labours. 
On sent à quel point il doit croire 
A la fuite utile des jours. 

Il marche dans la plaine immense, 
Va, vient, lance la graine au loin, 
Rouvre sa main, et recommence, 
Et je médite, obscur témoin, 

Pendant que, déployant ses voiles, 
L'ombre, où se mêle une rumeur, 
Semble élargir jusqu'aux étoiles 
Le geste auguste du semeur.

Hoàng hôn đang xuống đó 
Tựa cửa, ta ngắm trông 
Ngày tàn còn soi tỏ 
Giờ cuối buổi làm đồng 

Bóng đêm đầm mặt ruộng 
Tơi tả áo quần giây 
Cụ già vung nắm giống 
Mùa sau xuống luống cày 

Dáng người cao đen sẫm 
Vời vợi trên đồng sâu 
Hẳn lòng người tin lắm 
Tháng ngày kia đến đâu 

Người bước, đồng mênh mông 
Tới lui, tung hạt giống 
Nắm mở bàn tay ông 
Ta lặng nhìn, mơ mộng 

Trong màn đêm lan rộng 
Nghe lẫn tiếng rì rào 
Cánh tay người gieo giống 
Như vươn tới trời sao


Bài thơ trên được rút từ tập "Những khúc hát đường phố và núi rừng". 
Nguồn: Tuyển thơ Victor Hugo, NXB Văn học, 2002.
 
 
Technorati Tags:

Biển đêm (Victor Hugo, Pháp)

3D4

Oceano nox

Oh! combien de marins, combien de capitaines
Qui sont partis joyeux pour des courses lointaines,
Dans ce morne horizon se sont évanouis!
Combien ont disparu, dure et triste fortune!
Dans une mer sans fond, par une nuit sans lune,
Sous l'aveugle océan à jamais enfouis!
Combien de patrons morts avec leurs équipages!
L'ouragan de leur vie a pris toutes les pages
Et d'un souffle il a tout dispersé sur les flots!
Nul ne saura leur fin dans l'abîme plongée.
Chaque vague en passant d'un butin s'est chargée;  
L'une a saisi l'esquif, l'autre les matelots!
Nul ne sait votre sort, pauvres têtes perdues!
Vous roulez à travers les sombres étendues,
Heurtant de vos fronts morts des écueils inconnus.
Oh ! que de vieux parents, qui n'avaient plus qu'un rêve,
Sont morts en attendant tous les jours sur la grève
Ceux qui ne sont pas revenus!
On s'entretient de vous parfois dans les veillées.
Maint joyeux cercle, assis sur des ancres rouillées,
Mêle encor quelque temps vos noms d'ombre couverts
Aux rires, aux refrains, aux récits d'aventures,
Aux baisers qu'on dérobe à vos belles futures,
Tandis que vous dormez dans les goémons verts!
On demande : -- Où sont-ils ? sont-ils rois dans quelque île?
Nous ont-ils délaissés pour un bord plus fertile? -
Puis votre souvenir même est enseveli.
Le corps se perd dans l'eau, le nom dans la mémoire.
Le temps, qui sur toute ombre en verse une plus noire,
Sur le sombre océan jette le sombre oubli.
Bientôt des yeux de tous votre ombre est disparue.
L'un n'a-t-il pas sa barque et l'autre sa charrue?
Seules, durant ces nuits où l'orage est vainqueur,
Vos veuves aux fronts blancs, lasses de vous attendre,
Parlent encor de vous en remuant la cendre
De leur foyer et de leur coeur!
Et quand la tombe enfin a fermé leur paupière,
Rien ne sait plus vos noms, pas même une humble pierre
Dans l'étroit cimetière où l'écho nous répond,
Pas même un saule vert qui s'effeuille à l'automne,
Pas même la chanson naïve et monotone
Que chante un mendiant à l'angle d'un vieux pont!
Où sont-ils, les marins sombrés dans les nuits noires?
Ô flots, que vous savez de lugubres histoires!
Flots profonds redoutés des mères à genoux!
Vous vous les racontez en montant les marées,
Et c'est ce qui vous fait ces voix désespérées
Que vous avez le soir quand vous venez vers nous!  

Biển đêm (Người dịch: Tố Hữu)

Ôi! Biết bao thuyền viên, thuyền trưởng
Buổi ra đi, vui sướng đường xa
Cuối chân trời u ám đã thành ma
Đã biến mất, đớn đau số phận
Đêm không trăng, giữa biển không cùng
Chôn vùi thân dưới đáy muôn trùng
Biết bao đã chết rồi, lái bạn
Cơn cuồng phong cuốn sạch trang đời
Ném tan tành trên mặt nước xa khơi
Còn ai biết nổi chìm kiếp ấy
Mỗi sóng xô vồ cướp lấy mồi
Một mảnh thuyền, một tấm thân trôi
Còn ai hay, hỡi người xấu số
Giữa mênh mông, thi thể về đâu
Trán anh va vào đá nhô đầu
Ôi! biết bao mẹ cha hy vọng
Ngày lại ngày trên bãi bờ quê
Ngóng trông ai không thấy trở về
Tối đến, trên đống neo hoen rỉ
Nhà nhà vui, bên lửa vây quanh
Có khi người nhắc đến tên anh
Trong khúc hát, tiếng cười, câu chuyện
Giữa cái hôn của cả người yêu
Lúc anh nằm dưới đáy xanh rêu
Người lại hỏi: anh đâu rồi nhỉ
Vua đảo nào, hay gặp chốn giàu sang?
Rồi chẳng ai còn nhớ... dần tan
Thân trong nước, tên trong trí nhớ
Thời gian qua dần phủ bóng đen
Trên biển sâu và lòng lãng quên
Chẳng ai nhớ dáng hình anh nữa
Người người lo thuyền lưới, đi cày
Chỉ đêm đêm, giông bão gào lay
Những người vợ bơ phờ mỏi mắt
Kể về anh, khêu lớp tro tàn
Của lòng đau và của lò than
Và đến lúc khép rồi nấm mộ
Chẳng còn ai biết nữa tên anh
Hòn đá trong nghĩa địa vắng tanh
Cả gốc liễu mùa thu trút lá
Và cả người hành khất bên cầu
Hát điệu buồn, ai nhớ anh đâu
Ôi! đâu hết những người thuỷ thủ
Chìm trong đêm, bi thảm đời người
Kinh hoàng bao lòng mẹ, biển ơi
Phải chăng lúc triều lên sóng vỗ
Những tiếng người tuyệt vọng kêu la
Mỗi chiều về, lại đến cùng ta!

Ông lão ăn mày (Victor Hugo, Pháp)

429-1

Le mendiant

Un pauvre homme passait dans le givre et le vent.
Je cognai sur ma vitre; il s’arrêta devant
Ma porte, que j’ouvris d’une façon civile.
Les ânes revenaient du marché de la ville,
Portant les paysans accroupis sur leurs bâts.
C’était le vieux qui vit dans une niche au bas
De la montée, et rêve, attendant, solitaire.
Un rayon du ciel triste, un liard de la terre.
Tendant les mains pour l’homme et les joignant pour Dieu.
Je lui criai: — Venez vous réchauffer un peu.
Comment vous nommez-vous? — Il me dit: — Je me nomme
Le pauvre. — Je lui pris la main: — Entrez, brave homme. —
Et je lui fis donner une jatte de lait.
Le vieillard grelottait de froid; il me parlait.
Et je lui répondais, pensif et sans l’entendre.
— Vos habits sont mouillés, dis-je, il faut les étendre
Devant la cheminée. — Il s’approcha du feu.
Son manteau, tout mangé des vers, et jadis bleu,
Étalé largement sur la chaude fournaise.
Piqué de mille trous par la lueur de braise,
Couvrait l’âtre, et semblait un ciel noir étoilé.
Et, pendant qu’il séchait ce haillon désolé
D’où ruisselait la pluie et l’eau des fondrières,
Je songeais que cet homme était plein de prières.
Et je regardais, sourd à ce que nous disions.
Sa bure où je voyais des constellations. 

Ông lão ăn mày (Người dịch: Phùng Văn Tửu)

Một ông già khốn khổ đi ngang qua trong gió, tuyết
Tôi gõ kính, ông dừng lại
Trước cửa nhà tôi, rộng mở ân cần
Nông dân đi chợ tỉnh đang lũ lượt về thôn
Ngồi xổm trên yên những chú lừaddungr đỉnh
Ông già ấy ở túp lều cuối dốc
Sống mơ ước, đợi chờ, cô độc
Một đồng tiền nơi mặt đất, một tia sáng nơi trời buồn
Chìa tay xin người và chắp tay cầu Chúa
Tôi gọi: - Cụ ơi, vào đây sưởi đã
Tên cụ là gì? - Cụ trả lời:
- Tôi là Kẻ khó. - Vào đi đã, cụ ơi!
Dắt tay cụ, tôi đưa mời bát sữa
Ông lão rét run; còn tôi thì tư lự
Tai nghe chẳng rõ, nhưng vẫn chuyện trò
- Áo ướt sũng, cụ ơi, giăng trước lò sưởi cho khô
Cụ bước lại gần lửa rực
Chiếc áo khoác, gián ăn, màu thanh thiên đã bạc
Trải rộng, chùm lên lò than
Đốm lửa soi qua lỗ chỗ muôn ngàn
Giống khoảng trời đen đầy sao lấp lánh
Trong lúc cụ hong manh áo nghèo cũ rách
Đẫm nước mưa và lấm đầy bùn
Tôi tưởng chừng như cụ đang tĩnh tâm cầu nguyện
Và chẳng để tai nghe những câu trò chuyện
Tôi nhìn tấm áo vải thô với những chòm sao

Technorati Tags:

Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013

Cái chết của người nghèo (Charles Baudelaire, Pháp)

5CA

La mort des pauvres

Cái chết của người nghèo (Người dịch: Trần Mai Châu)

C’est la Mort qui console, hélas ! et qui fait vivre ; 
C’est le but de la vie, et c’est le seul espoir 
Qui, comme un élixir, nous monte et nous enivre, 
Et nous donne le cœur de marcher jusqu’au soir ; 

À travers la tempête, et la neige, et le givre, 
C’est la clarté vibrante à notre horizon noir ; 
C’est l’auberge fameuse inscrite sur le livre, 
Où l’on pourra manger, et dormir, et s’asseoir ; 

C’est un Ange qui tient dans ses doigts magnétiques 
Le sommeil et le don des rêves extatiques, 
Et qui refait le lit des gens pauvres et nus ; 

C’est la gloire des Dieux, c’est le grenier mystique, 
C’est la bourse du pauvre et sa patrie antique, 
C’est le portique ouvert sur les Cieux inconnus !

Cái chết vỗ về và giúp ta sống được 
Đó là đích cuộc đời, là hy vọng chứa chan 
Như rượu ngọt làm hồn ta say khướt, 
Để vững tâm đi đến lúc chiều tàn. 

Qua sương tuyết, qua giá băng, bão tố, 
Là ánh sáng rung rinh ở tận cuối chân trời, 
Là quán trọ từng ghi trong sách cũ, 
Nơi con người được ăn, ngủ, nghỉ ngơi. 

Là thiên thần với đôi tay ảo diệu 
Chắp cánh hồng cho mộng ngạt ngào hương, 
Dẹp cảnh cơ hàn, xoá đi tăm tối; 

Là hào quang các thánh, là lúa, gạo, bạc vàng, 
Của kẻ nghèo, là quê hương cổ đại, 
Trời lạ kì là cửa mở thênh thang!