Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ NGa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ NGa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Bôrôđinô

                                       Mikhail Iurjevich Lermontov
Borodino

Бородино

Bôrôđinô (Người dịch: Thuỳ Dương)

— Скажи-ка, дядя, ведь не даром 
Москва, спалённая пожаром, 
Французу отдана? 
Ведь были ж схватки боевые, 
Да, говорят, ещё какие! 
Недаром помнит вся Россия 
Про день Бородина! 

— Да, были люди в наше время, 
Не то, что нынешнее племя: 
Богатыри — не вы! 
Плохая им досталась доля: 
Немногие вернулись с поля... 
Не будь на то господня воля, 
Не отдали б Москвы! 

Мы долго молча отступали, 
Досадно было, боя ждали, 
Ворчали старики: 
«Что ж мы? на зимние квартиры? 
Не смеют, что ли, командиры 
Чужие изорвать мундиры 
О русские штыки?» 

И вот нашли большое поле: 
Есть разгуляться где на воле! 
Построили редут. 
У наших ушки на макушке! 
Чуть утро осветило пушки 
И леса синие верхушки — 
Французы тут как тут. 

Забил заряд я в пушку туго 
И думал: угощу я друга! 
Постой-ка, брат мусью! 
Что тут хитрить, пожалуй к бою; 
Уж мы пойдем ломить стеною, 
Уж постоим мы головою 
За родину свою! 

Два дня мы были в перестрелке. 
Что толку в этакой безделке? 
Мы ждали третий день. 
Повсюду стали слышны речи: 
«Пора добраться до картечи!» 
И вот на поле грозной сечи 
Ночная пала тень. 

Прилёг вздремнуть я у лафета, 
И слышно было до рассвета, 
Как ликовал француз. 
Но тих был наш бивак открытый: 
Кто кивер чистил весь избитый, 
Кто штык точил, ворча сердито, 
Кусая длинный ус. 

И только небо засветилось, 
Всё шумно вдруг зашевелилось, 
Сверкнул за строем строй. 
Полковник наш рождён был хватом: 
Слуга царю, отец солдатам... 
Да, жаль его: сражён булатом, 
Он спит в земле сырой. 

И молвил он, сверкнув очами: 
«Ребята! не Москва ль за нами? 
Умрёмте же под Москвой, 
Как наши братья умирали!» 
И умереть мы обещали, 
И клятву верности сдержали 
Мы в Бородинский бой. 

Ну ж был денёк! Сквозь дым летучий 
Французы двинулись, как тучи, 
И все на наш редут. 
Уланы с пёстрыми значками, 
Драгуны с конскими хвостами, 
Все промелькнули перед нами, 
Все побывали тут. 

Вам не видать таких сражений!.. 
Носились знамена, как тени, 
В дыму огонь блестел, 
Звучал булат, картечь визжала, 
Рука бойцов колоть устала, 
И ядрам пролетать мешала 
Гора кровавых тел. 

Изведал враг в тот день немало, 
Что значит русский бой удалый, 
Наш рукопашный бой!.. 
Земля тряслась — как наши груди, 
Смешались в кучу кони, люди, 
И залпы тысячи орудий 
Слились в протяжный вой... 

Вот смерклось. Были все готовы 
Заутра бой затеять новый 
И до конца стоять... 
Вот затрещали барабаны — 
И отступили бусурманы. 
Тогда считать мы стали раны, 
Товарищей считать. 

Да, были люди в наше время, 
Могучее, лихое племя: 
Богатыри — не вы. 
Плохая им досталась доля: 
Немногие вернулись с поля. 
Когда б на то не божья воля, 
Не отдали б Москвы!

- Bác nhỉ, đâu phải là vô ích 
Matxcơva rực lửa ngày đêm 
Để rơi vào tay Pháp? 
Thì chúng đã có những keo đọ sức 
Mà nghe đâu nào phải chuyện vừa 
Dễ gì ngày Bôrôđinô 
Cả nước Nga này đều ghi nhớ! 

- Phải, những con người của thời ta đó 
Có đâu như ở thời này 
Dũng sĩ oai hùng - nào phải các chú mày! 
Họ gánh chịu số phận đời nghiệt ngã 
Chiến trận trở về mấy kẻ... 
Nếu như chẳng phải mệnh trời 
Thì Matxcơva nào họ chịu buông rơi 

Ta lặng lẽ rút quân liên tiếp 
Thèm được đánh, ruột gan ấm ức 
Cánh bố già nuốt hận càu nhàu: 
"Lính ta về rúc bếp hay sao? 
Phải chăng quan trên không dám 
Xé quân phục ngoại bang thành trăm mảnh 
Trên đầu lưỡi lê Nga?" 

Nhưng rồi một chiến trường rộng lớn hiện ra 
Nơi đây vẫy vùng thoả chí 
Bọn ta dựng công sự 
Giỏng tai nghe ngóng binh tình! 
Sớm mai trời vừa soi tỏ 
Nòng thần công và ngọn rừng xanh 
Quân Pháp đà lố nhố 

Đạn thần công ta nhồi chặt nõ 
Nghĩ thầm: thết bạn ta đây 
Nào xin mời, anh bạn méc-xừ ơi! 
Đòn chi nhau, cứ đường hoàng giáp trận 
Đây sẽ dăng thành tiến đánh 
Thề hy sinh đến giọt máu cuối cùng 
Vì Tổ quốc quê hương! 

Súng chọi súng hai ngày đối đáp 
Trò dớ dẩn chẳng bõ bèn chi hết 
Phải chờ đến sáng thứ ba 
Khắp nơi nghe bàn tán nhỏ to 
"Phải dùng đến đạn ria tiếp cận!" 
Bãi chiến trường trận đụng đầu kinh khủng 
Dần chìm sâu trong bóng đêm đen 

Ta ngả lưng nghỉ trên bệ thần công 
Và thâu đêm suốt sáng 
Nghe lính Pháp tưng bừng sửa soạn 
Phía ta công sự lặng thinh 
Người sửa mũ ki-ve nhàu bẹp lấm lem 
Kẻ tức giận càu nhàu nhai ria mép 
Đem lưỡi lê mài sắc 

Và khi trời vừa rạng tinh mơ 
Bỗng ì ầm chuyển động gần xa 
Từng cơ đội rùng rùng nối tiếp 
Vị đại tá của bọn ta vốn dòng tuấn kiệt 
Bầy tôi vua, cha của ba quân 
Thương ôi, ngang một đường gươm 
Ngài ngã xuống, ngủ yên trong đất lạnh 

Mắt sáng ngời, lời còn sang sảng" 
"Sau lưng há không phải Matxcơva? 
Thì anh em hãy chết trước thành đô 
Như những người anh em xưa đã chết!" 
Và chúng tôi thề liều thân chẳng tiếc 
Và trung thành giữ trọn lời thề 
Tiến trận Bôrôđinô 

Ôi mới thật là một ngày đáng nhớ 
Quân Pháp như mây đen cuộn gió 
Cứ theo nhau ùn đến pháo ta 
Lính U-lan quân hiệu rườm rà 
Binh sĩ Đra-gun tung đôi ngựa 
Cứ loang loáng nhưi đèn cù vây bủa 
Cứ ùn ùn lũ lượt kéo qua 

Các chú mày đâu còn thấy cảnh kia!... 
Quân kỳ bay rợp trời rợp đất 
Lửa nhấp nhoáng trong khói tuôn mù mịt 
Xoang xoảng gươm khua, đại bác rít gầm 
Tay rã rời đâm chém dọc ngang 
Và thây đổ máu me xây thành núi 
Đạn thần công không bay đi nổi 

Giặc hiểu ra bữa ấy khá nhiều 
Người lính Nga xung trận ra sao? 
Trận giáp chiến Nga nấy nay chưa biết! 
Đất rung lên tựa như lồng ngực 
Ngựa, người, hỗn độn tơi bời 
Thần công như sấm dậy long trời 
Hàng ngàn khẩu cùng nhau phát hoả... 

Thế rồi tối dần. Sẵn sàng tất cả 
Lại bắt đầu một trận mới ngày mai 
Và nhất thiết không lùi... 
Vừa hay rền trống lệnh 
Lũ tà đạo thu quân hồi tướng 
Bấy giờ ta mới đếm vết thương 
Kiểm lại xem ai mất ai còn 

Phải, những con người của thời ta đó 
Hiên ngang và dũng cường thay! 
Dũng sĩ oai hùng - nào phải các chú mày! 
Họ gánh chịu số phận đời nghiệt ngã 
Chiến trận trở về mấy kẻ... 
Nếu chẳng là ý thượng đế Chúa trời 
Thì Matxcơva nào họ chịu buông rơi!


Mikhail Yuryevich Lermontov

Mikhail Yuryevich Lermontov

(tiếng Nga: Михаи́л Ю́рьевич Ле́рмонтов, 15 tháng 10, 1814 – 27 tháng 7, 1841)

Cuộc đời

Mikhail_lermontov

Mikhail Yuryevich Lermontov sinh ở Moskva trong một gia đình có gốc gác từ Scotland. Mẹ mất sớm nên Lermontov được bà ngoại nuôi dạy. Từ nhỏ đã thông thạotiếng Pháp, tiếng Đức. Năm 1825 bà ngoại đưa Lermontov đi về vùng Kavkaz. Ký ức tuổi thơ trước phong cảnh thiên nhiên của vùng Kavkaz in đậm trong nhiều sáng tác của ông. Năm 1827 trở lại Moskva, Lermontov vào học tại học xá Moskva, đến năm 1830 học xá trở thành gymnazy thì nghỉ học, sau đó vào học Đại học Moskva nhưng hai năm sau lại nghỉ học. Theo lời khuyên của một người bạn, Lermontov vào học trường võ bị Sankt Peterburg. Sau khi tốt nghiệp đi về vùng Kavkaz phục vụ. Thời gian ở Kavkaz, trong một vụ xích mích với Martynov, người trước đây từng là bạn học ở trường võ bị, đã quyết định đấu súng và bị giết chết.

Thơ ca

Taman_Lermontov

Cuộc đời của Lermontov chỉ vỏn vẹn có 27 năm nhưng di sản thơ ca mà ông để lại cho đời vô cùng to lớn. Lermontov giữ một vị trí đặc biệt trong thơ ca Nga. Nhà phê bình Belinsky viết: “Trong thơ của Lermontov là tất cả sức mạnh, là tất cả yếu tố để làm nên cuộc đời và thơ ca: một sức mạnh bền vững của tâm hồn, sự nhún nhường của than vãn, mùi hương của lời cầu nguyện, một sự khích lệ như sóng gió ba đào, một nỗi buồn tĩnh lặng, một nỗi trầm tư dịu dàng, những lời thở than kêu hãnh, những tiếng kêu la tuyệt vọng, vẻ đằm thắm bí huyền của tình cảm, những ước mong táo bạo không thể ngăn kìm, sự trong trắng trinh nguyên, những bệnh tật của xã hội, những bức tranh của thế giới, những lời quở trách của lương tâm, sự hối hận đến mủi lòng, sự thổn thức của đam mê và những giọt nước mắt lặng lẽ rót vào sóng gió của con tim, sự hoan hỉ của tình, lo âu của ngày ly biệt, niềm vui của ngày gặp mặt, sự coi khinh vẻ đơn điệu của đời thường, sự khát khao điên cuồng của vẻ hân hoan, một lòng tin cháy bừng như ngọn lửa và nỗi khổ của sự trống vắng trong tâm hồn, tiếng kêu than xua đi cảm giác về một cuộc đời đang chết lặng, chất độc của phủ nhận, vẻ lạnh lùng của mối nghi ngờ, ác quỉ ngạo mạn và đứa bé ngây thơ, vẻ ngang tàng của kẻ rượu chè và cô gái ngây thơ trong trắng – tất cả, tất cả trong thơ này: và bầu trời, và mặt đất, và thiên đàng, và địa ngục”. Với vẻ phong phú về ý tưởng và mô-típ kể trên, có thể chia sáng tác của Lermontov thành 2 giai đoạn: giai đoạn thứ nhất đến năm 1835 và giai đoạn thứ hai là những năm còn lại của cuộc đời thơ ngắn ngủi. Ở giai đoạn đầu Lermontov sáng tác bằng trí tưởng tưởng, bằng cảm nhận về thế giới xung quanh mình: sự đấu tranh không khoan nhượng của hai mặt đối lập giữa trời và đất, qua đó nhìn ra nguyên nhân của bi kịch cuộc đời mình. Giai đoạn thứ hai nhà thơ đã gần hơn với thực tế qua sự với tiếp xúc nhiều với những con người và đời sống xã hội. Như một người theo thuyết nhị nguyên luận, nhà thơ cảm nhận vẻ hai mặt của con người “trong khoảng trung gian kinh hoàng giữa hai cuộc đời”.

Một vài bài thơ

Парус
Белеет парус одинокой
В тумане моря голубом!..
Что ищет он в стране далекой?
Что кинул он в краю родном?..
 
Играют волны - ветер свищет,
И мачта гнется и скрыпит...
Увы! он счастия не ищет
И не от счастия бежит!
 
Под ним струя светлей лазури,
Над ним луч солнца золотой...
А он, мятежный, просит бури,
Как будто в бурях есть покой!

Cánh buồm
Một cánh buồm cô đơn đang dần trắng
Trong màn sương của nước biển ngời xanh
Buồm đi tìm chi ở nơi xa vắng?
Và tại vì sao từ giã quê mình?…
 
Những ngọn sóng chơi đùa – cơn gió thét
Và cột buồm đang cót két, uốn cong…
Than ôi – buồm chẳng đi tìm hạnh phúc
Và cũng không chạy trốn nỗi vui mừng!
 
Phía dưới buồm, nước màu xanh sáng tỏ
Phía trên buồm ánh nắng có màu vàng…
Còn buồm nổi loạn, cầu xin bão tố
Tựa hồ trong bão tố có bình yên!

Выхожу один я на дорогу

Выхожу один я на дорогу;
Сквозь туман кремнистый путь блестит;
Ночь тиха. Пустыня внемлет богу,
И звезда с звездою говорит.
 
В небесах торжественно и чудно!
Спит земля в сияньи голубом...
Что же мне так больно и так трудно?
Жду ль чего? жалею ли о чём?
 
Уж не жду от жизни ничего я,
И не жаль мне прошлого ничуть;
Я ищу свободы и покоя!
Я б хотел забыться и заснуть!
 
Но не тем холодным сном могилы...
Я б желал навеки так заснуть,
Чтоб в груди дремали жизни силы,
Чтоб дыша вздымалась тихо грудь;
 
Чтоб всю ночь, весь день мой слух лелея,
Про любовь мне сладкий голос пел,
Надо мной чтоб вечно зеленея
Тёмный дуб склонялся и шумел.

Tôi một mình bước ra con đường nhỏ
 

Tôi một mình bước ra con đường nhỏ
Qua màn sương con đường đá ánh lên
Đêm tĩnh lặng. Đồng hoang nghe lời Chúa
Và những ngôi sao to nhỏ tự tình.
 
Giữa bầu trời diệu kỳ và trang trọng
Đất ngủ yên trong ánh sáng màu xanh
Có điều chi làm cho tôi đau đớn?
Có điều chi tôi mong đợi cho mình?
 
Không còn đợi điều chi từ cuộc sống
Tháng ngày qua không một chút tiếc thương
Tôi đi tìm tự do và tĩnh lặng
Tôi chỉ mong giá được ngủ và quên!
 
Nhưng không bằng giấc mơ trong mồ lạnh
Dù vẫn mong được ngủ vậy muôn đời
Để trong ngực mê man nguồn nhựa sống
Để lặng yên con sóng giữa lòng tôi.
 
Để suốt đêm, suốt ngày tôi nghe được
Về tình yêu một giọng hát ngọt ngào
Để trên đầu tôi muôn đời xanh mướt
Cây sồi đen ngả cành xuống lao xao.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng