| Le Manteau impérial | Chiếc áo bào (Người dịch: Phùng Văn Tửu) |
| Oh! vous dont le travail est joie, | Ồ! các em mà lao động là vui |
Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013
Chiếc áo bào (Victor Hugo, Pháp)
Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013
Anh đã hái hoa này (Victor Hugo, Pháp)
| Anh đã hái hoa này (Victor Hugo, Pháp) J'ai cueilli cette fleur pour toi sur la colline J'ai cueilli cette fleur pour toi sur la colline. | Anh đã hái hoa này (Người dịch: Xuân Diệu) Anh đã hái đoá hoa này trên đồi ấy cho em |
Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013
Chiều, mùa gieo giống (Victor Hugo, Pháp)
Bài thơ trên được rút từ tập "Những khúc hát đường phố và núi rừng". Nguồn: Tuyển thơ Victor Hugo, NXB Văn học, 2002. | |||||||
| | |||||||
Biển đêm (Victor Hugo, Pháp)
Oceano nox
Oh! combien de marins, combien de capitaines
Qui sont partis joyeux pour des courses lointaines,
Dans ce morne horizon se sont évanouis!
Combien ont disparu, dure et triste fortune!
Dans une mer sans fond, par une nuit sans lune,
Sous l'aveugle océan à jamais enfouis!
Combien de patrons morts avec leurs équipages!
L'ouragan de leur vie a pris toutes les pages
Et d'un souffle il a tout dispersé sur les flots!
Nul ne saura leur fin dans l'abîme plongée.
Chaque vague en passant d'un butin s'est chargée;
L'une a saisi l'esquif, l'autre les matelots!
Nul ne sait votre sort, pauvres têtes perdues!
Vous roulez à travers les sombres étendues,
Heurtant de vos fronts morts des écueils inconnus.
Oh ! que de vieux parents, qui n'avaient plus qu'un rêve,
Sont morts en attendant tous les jours sur la grève
Ceux qui ne sont pas revenus!
On s'entretient de vous parfois dans les veillées.
Maint joyeux cercle, assis sur des ancres rouillées,
Mêle encor quelque temps vos noms d'ombre couverts
Aux rires, aux refrains, aux récits d'aventures,
Aux baisers qu'on dérobe à vos belles futures,
Tandis que vous dormez dans les goémons verts!
On demande : -- Où sont-ils ? sont-ils rois dans quelque île?
Nous ont-ils délaissés pour un bord plus fertile? -
Puis votre souvenir même est enseveli.
Le corps se perd dans l'eau, le nom dans la mémoire.
Le temps, qui sur toute ombre en verse une plus noire,
Sur le sombre océan jette le sombre oubli.
Bientôt des yeux de tous votre ombre est disparue.
L'un n'a-t-il pas sa barque et l'autre sa charrue?
Seules, durant ces nuits où l'orage est vainqueur,
Vos veuves aux fronts blancs, lasses de vous attendre,
Parlent encor de vous en remuant la cendre
De leur foyer et de leur coeur!
Et quand la tombe enfin a fermé leur paupière,
Rien ne sait plus vos noms, pas même une humble pierre
Dans l'étroit cimetière où l'écho nous répond,
Pas même un saule vert qui s'effeuille à l'automne,
Pas même la chanson naïve et monotone
Que chante un mendiant à l'angle d'un vieux pont!
Où sont-ils, les marins sombrés dans les nuits noires?
Ô flots, que vous savez de lugubres histoires!
Flots profonds redoutés des mères à genoux!
Vous vous les racontez en montant les marées,
Et c'est ce qui vous fait ces voix désespérées
Que vous avez le soir quand vous venez vers nous!
Biển đêm (Người dịch: Tố Hữu)
Ôi! Biết bao thuyền viên, thuyền trưởng
Buổi ra đi, vui sướng đường xa
Cuối chân trời u ám đã thành ma
Đã biến mất, đớn đau số phận
Đêm không trăng, giữa biển không cùng
Chôn vùi thân dưới đáy muôn trùng
Biết bao đã chết rồi, lái bạn
Cơn cuồng phong cuốn sạch trang đời
Ném tan tành trên mặt nước xa khơi
Còn ai biết nổi chìm kiếp ấy
Mỗi sóng xô vồ cướp lấy mồi
Một mảnh thuyền, một tấm thân trôi
Còn ai hay, hỡi người xấu số
Giữa mênh mông, thi thể về đâu
Trán anh va vào đá nhô đầu
Ôi! biết bao mẹ cha hy vọng
Ngày lại ngày trên bãi bờ quê
Ngóng trông ai không thấy trở về
Tối đến, trên đống neo hoen rỉ
Nhà nhà vui, bên lửa vây quanh
Có khi người nhắc đến tên anh
Trong khúc hát, tiếng cười, câu chuyện
Giữa cái hôn của cả người yêu
Lúc anh nằm dưới đáy xanh rêu
Người lại hỏi: anh đâu rồi nhỉ
Vua đảo nào, hay gặp chốn giàu sang?
Rồi chẳng ai còn nhớ... dần tan
Thân trong nước, tên trong trí nhớ
Thời gian qua dần phủ bóng đen
Trên biển sâu và lòng lãng quên
Chẳng ai nhớ dáng hình anh nữa
Người người lo thuyền lưới, đi cày
Chỉ đêm đêm, giông bão gào lay
Những người vợ bơ phờ mỏi mắt
Kể về anh, khêu lớp tro tàn
Của lòng đau và của lò than
Và đến lúc khép rồi nấm mộ
Chẳng còn ai biết nữa tên anh
Hòn đá trong nghĩa địa vắng tanh
Cả gốc liễu mùa thu trút lá
Và cả người hành khất bên cầu
Hát điệu buồn, ai nhớ anh đâu
Ôi! đâu hết những người thuỷ thủ
Chìm trong đêm, bi thảm đời người
Kinh hoàng bao lòng mẹ, biển ơi
Phải chăng lúc triều lên sóng vỗ
Những tiếng người tuyệt vọng kêu la
Mỗi chiều về, lại đến cùng ta!
Ông lão ăn mày (Victor Hugo, Pháp)
Le mendiant
Un pauvre homme passait dans le givre et le vent.
Je cognai sur ma vitre; il s’arrêta devant
Ma porte, que j’ouvris d’une façon civile.
Les ânes revenaient du marché de la ville,
Portant les paysans accroupis sur leurs bâts.
C’était le vieux qui vit dans une niche au bas
De la montée, et rêve, attendant, solitaire.
Un rayon du ciel triste, un liard de la terre.
Tendant les mains pour l’homme et les joignant pour Dieu.
Je lui criai: — Venez vous réchauffer un peu.
Comment vous nommez-vous? — Il me dit: — Je me nomme
Le pauvre. — Je lui pris la main: — Entrez, brave homme. —
Et je lui fis donner une jatte de lait.
Le vieillard grelottait de froid; il me parlait.
Et je lui répondais, pensif et sans l’entendre.
— Vos habits sont mouillés, dis-je, il faut les étendre
Devant la cheminée. — Il s’approcha du feu.
Son manteau, tout mangé des vers, et jadis bleu,
Étalé largement sur la chaude fournaise.
Piqué de mille trous par la lueur de braise,
Couvrait l’âtre, et semblait un ciel noir étoilé.
Et, pendant qu’il séchait ce haillon désolé
D’où ruisselait la pluie et l’eau des fondrières,
Je songeais que cet homme était plein de prières.
Et je regardais, sourd à ce que nous disions.
Sa bure où je voyais des constellations.
Ông lão ăn mày (Người dịch: Phùng Văn Tửu)
Một ông già khốn khổ đi ngang qua trong gió, tuyết
Tôi gõ kính, ông dừng lại
Trước cửa nhà tôi, rộng mở ân cần
Nông dân đi chợ tỉnh đang lũ lượt về thôn
Ngồi xổm trên yên những chú lừaddungr đỉnh
Ông già ấy ở túp lều cuối dốc
Sống mơ ước, đợi chờ, cô độc
Một đồng tiền nơi mặt đất, một tia sáng nơi trời buồn
Chìa tay xin người và chắp tay cầu Chúa
Tôi gọi: - Cụ ơi, vào đây sưởi đã
Tên cụ là gì? - Cụ trả lời:
- Tôi là Kẻ khó. - Vào đi đã, cụ ơi!
Dắt tay cụ, tôi đưa mời bát sữa
Ông lão rét run; còn tôi thì tư lự
Tai nghe chẳng rõ, nhưng vẫn chuyện trò
- Áo ướt sũng, cụ ơi, giăng trước lò sưởi cho khô
Cụ bước lại gần lửa rực
Chiếc áo khoác, gián ăn, màu thanh thiên đã bạc
Trải rộng, chùm lên lò than
Đốm lửa soi qua lỗ chỗ muôn ngàn
Giống khoảng trời đen đầy sao lấp lánh
Trong lúc cụ hong manh áo nghèo cũ rách
Đẫm nước mưa và lấm đầy bùn
Tôi tưởng chừng như cụ đang tĩnh tâm cầu nguyện
Và chẳng để tai nghe những câu trò chuyện
Tôi nhìn tấm áo vải thô với những chòm sao
Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011
Cái chết là gì Victor Hugo
| Ce que c'est que la mort | Cái chết là gì (Người dịch: Thứ Dân) |
| Ne dites pas: mourir; dites: naître. Croyez. On voit ce que je vois et ce que vous voyez; On est l'homme mauvais que je suis, que vous êtes; On se rue aux plaisirs, aux tourbillons, aux fêtes; On tâche d'oublier le bas, la fin, l'écueil, La sombre égalité du mal et du cercueil; Quoique le plus petit vaille le plus prospère; Car tous les hommes sont les fils du même père; Ils sont la même larme et sortent du même oeil. On vit, usant ses jours à se remplir d'orgueil; On marche, on court, on rêve, on souffre, on penche, on tombe, On monte. Quelle est donc cette aube? C'est la tombe. Où suis-je? Dans la mort. Viens! Un vent inconnu Vous jette au seuil des cieux. On tremble; on se voit nu, Impur, hideux, noué des mille noeuds funèbres De ses torts, de ses maux honteux, de ses ténèbres; Et soudain on entend quelqu'un dans l'infini Qui chante, et par quelqu'un on sent qu'on est béni, Sans voir la main d'où tombe à notre âme méchante L'amour, et sans savoir quelle est la voix qui chante. On arrive homme, deuil, glaçon, neige; on se sent Fondre et vivre; et, d'extase et d'azur s'emplissant, Tout notre être frémit de la défaite étrange Du monstre qui devient dans la lumière un ange. | Đừng nói: chết; hãy nói: ra đời. Hãy tin Người ta nhìn thấy điều anh và tôi cùng thấy Người ta xấu như anh và tôi Lao mình vào thú vui, hội hè, gió xoáy Người ta cố quên đi mặt trái, ngày tận thế, thác gành Cố quên sự bình đẳng của chúng sinh về cái chết và áo quan Kẻ hèn mọn nhất cũng sánh ngang người giàu sang nhất Mọi người là hạt lệ trào ra từ cùng một mắt Họ là con của một cha duy nhất Người ta sống, hao phí năm tháng cho tự kiêu Đi, chạy, mơ màng, khom lưng, leo cao, ngã xuống trong khổ đau Vậy cảnh bình minh đó là chi? Là ngôi mộ Ta đang ở đâu? Trong cõi chết. lại đây! Cơn gió lạ Cuốn ta tới ngưỡng trời. Ta run rẩy ngỡ ngàng Tự thấy trụi trần ô uế, xấu xa, gò trói bởi ngàn nút màu tang Sinh ra do lỗi lầm, tội ác, việc làm tối tăm Bỗng ai đó hát trong không gian vô tận Ai đó với ta tỏ ra trân trọng Ta không thấy bàn tay trao tình yêu cho linh hồn ta độc ác Cũng không biết giọng ai đang hát Ta tới nơi là người, là tang, là tuyết, là băng Ta cảm tháy tan ra và sống Lòng tràn mê ly và thiên thanh Của quái vật trở thành thiên thần trong ánh sáng |
