Hiển thị các bài đăng có nhãn Victor Hugo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Victor Hugo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013

Chiếc áo bào (Victor Hugo, Pháp)

484e9526_257049

Le Manteau impérial

Chiếc áo bào (Người dịch: Phùng Văn Tửu)

Oh! vous dont le travail est joie, 
Vous qui n’avez pas d’autre proie 
Que les parfums, souffles du ciel, 
Vous qui fuyez quand vient décembre, 
Vous qui dérobez aux fleurs l’ambre 
Pour donner aux hommes le miel, 

Chastes buveuses de rosée, 
Qui, pareilles à l’épousée, 
Visitez le lys du coteau, 
Ô sœurs des corolles vermeilles, 
Filles de la lumière, abeilles, 
Envolez-vous de ce manteau! 

Ruez-vous sur l’homme, guerrières! 
Ô généreuses ouvrières, 

Vous le devoir, vous la vertu, 
Ailes d’or et flèches de flamme, 
Tourbillonnez sur cet infâme! 
Dites-lui: «Pour qui nous prends-tu? 

»Maudit! nous sommes les abeilles! 
Des chalets ombragés de treilles 
Notre ruche orne le fronton; 
Nous volons, dans l’azur écloses, 
Sur la bouche ouverte des roses 
Et sur les lèvres de Platon. 

»Ce qui sort de la fange y rentre. 
Va trouver Tibère en son antre, 
Et Charles neuf sur son balcon. 
Va! sur ta pourpre il faut qu’on mette, 
Non les abeilles de l’Hymette, 
Mais l’essaim noir de Montfaucon!» 

Et percez-le toutes ensemble, 
Faites honte au peuple qui tremble, 
Aveuglez l’immonde trompeur, 
Acharnez-vous sur lui, farouches, 
Et qu’il soit chassé par les mouches 
Puisque les hommes en ont peur!

Ồ! các em mà lao động là vui 
Các cô em không kiếm mồi nào khác 
Ngoài hương thơm, hơi thở của trời 
Tháng chạp về, các em đi trốn 
Hổ phách của hoa, các em lấy trộm 
Để làm mật ngọt cho người 

Các cô em trong trắng hút sương mai 
Ong ơi ong, giống cô dâu mới cưới 
Ong đi thăm hoa huệ trên đồi 
Là con của ánh dương phơi phới 
Là em gái những cánh hoa đỏ chói 
Rời bỏ áo bào, ong hãy xa bay! 

Xông vào hắn đi, hỡi ong chiến sĩ 
Ôi các cô thợ hảo tâm 
Nghĩa vụ, các em, đức hạnh, các em 
Bộ cánh vàng và mũi tên rực lửa 
Hãy xoáy tít trên đầu thằng nhục nhã 
Hãy bảo hắn: "Mi nghĩ ta là ai? 

"Ta là ong! hỡi tên khốn kiếp! 
Tổ của ta rợp bóng giàn nho 
Làm đẹp cho các mí nhà nên thơ 
Chúng ta bay, trong trời xanh, bừng nở 
Trên miệng những đoá hồng hé mở 
Vàg trên môi Platon 

"Mi hãy tìm Charles IX trên ban công 
Và đến với Tibère trong hang tối 
Từ bùn thối, phải trở về bùn thối 
Cần thêu lũ quạ đen Montfaucon 
Chứ không phải bầy Hymette ong vàng 
Trên áo mi màu đỏ tía!" 

Hãy nhất tề đâm hắn đi, ong 
Hãy làm cho những kẻ nhát gan xấu hổ 
Hãy lăn xả vào, hung dữ 
Hãy chọc mù tên lừa đảo nhớp nhơ 
Hắn phải bị ong ruồi tống cổ đi 
Bởi vì con người run sợ!


Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013

Anh đã hái hoa này (Victor Hugo, Pháp)

429-1
Anh đã hái hoa này (Victor Hugo, Pháp)
J'ai cueilli cette fleur pour toi sur la colline

J'ai cueilli cette fleur pour toi sur la colline.
Dans l'âpre escarpement qui sur le flot s'incline,
Que l'aigle connaît seul et seul peut approcher,
Paisible, elle croissait aux fentes du rocher.
L'ombre baignait les flancs du morne promontoire ;
Je voyais, comme on dresse au lieu d'une victoire
Un grand arc de triomphe éclatant et vermeil,
À l'endroit où s'était englouti le soleil,
La sombre nuit bâtir un porche de nuées.
Des voiles s'enfuyaient, au loin diminuées ;
Quelques toits, s'éclairant au fond d'un entonnoir,
Semblaient craindre de luire et de se laisser voir.
J'ai cueilli cette fleur pour toi, ma bien-aimée.
Elle est pâle, et n'a pas de corolle embaumée,
Sa racine n'a pris sur la crête des monts
Que l'amère senteur des glauques goémons ;
Moi, j'ai dit: Pauvre fleur, du haut de cette cime,
Tu devais t'en aller dans cet immense abîme
Où l'algue et le nuage et les voiles s'en vont.
Va mourir sur un coeur, abîme plus profond.
Fane-toi sur ce sein en qui palpite un monde.
Le ciel, qui te créa pour t'effeuiller dans l'onde,
Te fit pour l'océan, je te donne à l'amour. -
Le vent mêlait les flots; il ne restait du jour
Qu'une vague lueur, lentement effacée.
Oh! comme j'étais triste au fond de ma pensée
Tandis que je songeais, et que le gouffre noir
M'entrait dans l'âme avec tous les frissons du soir !

Anh đã hái hoa này (Người dịch: Xuân Diệu)

Anh đã hái đoá hoa này trên đồi ấy cho em
Trong khoảng cheo leo nhìn xuống sóng nghiêng,
Mà chỉ có con diều biết rõ và tới được,
Giữa khe đá to bình yên hoa mọc.
Bóng tối dầm những sườn đá đìu hiu;
Anh nhìn thấy; như ở nơi mừng thắng trận
Một khải hoàn môn huy hoàng thắm đậm
Ở chốn kia mặt trời đã lặn chìm
Đêm dựng lên một cổng lớn mây chen.
Những cánh buồm bay ra xa, dần nhạt,
Dăm mái nhà dưới lũng sâu lát đác
Như sợ loé lên và sợ lộ mình.
- Anh đã hái hoa này, cho em của anh.
Hoa lọt lạt, mà cũng không thơm nữa,
Bởi rễ nó mọc ở trên vách đá
Chỉ hít mùi đằng đít của rong xanh.
Anh bảo thầm: -Hoa tội nghiệp! từ trên đỉnh gập ghềnh
Đáng lẽ em phải về nơi mênh mông vực thẳm
Mà rong với mây với buồm rong ruổi
Nhưng thôi em hãy chết trên một trái tim,
                             vực thẳm sâu hơn
Em hãy đến tàn trên ngực phập phồng
Trời sinh em ra để rã cánh vào sóng nước,
Trời uỷ em cho đại dương, ta uỷ em cho tình ái.
Gió khi ấy trộn các đầu sóng rối
Ngày chỉ còn một thoảng sáng dần phai
Ôi!trong đáy hồn anh buồn biết bao nhiêu
Anh nghĩ ngợi và vực đen trong lúc ấy
Vào giữa hồn anh cùng với vạn hơi chiều run rẩy!

Thứ Sáu, 19 tháng 4, 2013

Chiều, mùa gieo giống (Victor Hugo, Pháp)

rest-in-peace-my-friends-explored


Saison des semailles, le soir

Chiều, mùa gieo giống (Người dịch: Tố Hữu)

C'est le moment crépusculaire. 
J'admire, assis sous un portail, 
Ce reste de jour dont s'éclaire 
La dernière heure du travail. 

Dans les terres, de nuit baignées, 
Je contemple, ému, les haillons 
D'un vieillard qui jette à poignées 
La moisson future aux sillons. 

Sa haute silhouette noire 
Domine les profonds labours. 
On sent à quel point il doit croire 
A la fuite utile des jours. 

Il marche dans la plaine immense, 
Va, vient, lance la graine au loin, 
Rouvre sa main, et recommence, 
Et je médite, obscur témoin, 

Pendant que, déployant ses voiles, 
L'ombre, où se mêle une rumeur, 
Semble élargir jusqu'aux étoiles 
Le geste auguste du semeur.

Hoàng hôn đang xuống đó 
Tựa cửa, ta ngắm trông 
Ngày tàn còn soi tỏ 
Giờ cuối buổi làm đồng 

Bóng đêm đầm mặt ruộng 
Tơi tả áo quần giây 
Cụ già vung nắm giống 
Mùa sau xuống luống cày 

Dáng người cao đen sẫm 
Vời vợi trên đồng sâu 
Hẳn lòng người tin lắm 
Tháng ngày kia đến đâu 

Người bước, đồng mênh mông 
Tới lui, tung hạt giống 
Nắm mở bàn tay ông 
Ta lặng nhìn, mơ mộng 

Trong màn đêm lan rộng 
Nghe lẫn tiếng rì rào 
Cánh tay người gieo giống 
Như vươn tới trời sao


Bài thơ trên được rút từ tập "Những khúc hát đường phố và núi rừng". 
Nguồn: Tuyển thơ Victor Hugo, NXB Văn học, 2002.
 
 
Technorati Tags:

Biển đêm (Victor Hugo, Pháp)

3D4

Oceano nox

Oh! combien de marins, combien de capitaines
Qui sont partis joyeux pour des courses lointaines,
Dans ce morne horizon se sont évanouis!
Combien ont disparu, dure et triste fortune!
Dans une mer sans fond, par une nuit sans lune,
Sous l'aveugle océan à jamais enfouis!
Combien de patrons morts avec leurs équipages!
L'ouragan de leur vie a pris toutes les pages
Et d'un souffle il a tout dispersé sur les flots!
Nul ne saura leur fin dans l'abîme plongée.
Chaque vague en passant d'un butin s'est chargée;  
L'une a saisi l'esquif, l'autre les matelots!
Nul ne sait votre sort, pauvres têtes perdues!
Vous roulez à travers les sombres étendues,
Heurtant de vos fronts morts des écueils inconnus.
Oh ! que de vieux parents, qui n'avaient plus qu'un rêve,
Sont morts en attendant tous les jours sur la grève
Ceux qui ne sont pas revenus!
On s'entretient de vous parfois dans les veillées.
Maint joyeux cercle, assis sur des ancres rouillées,
Mêle encor quelque temps vos noms d'ombre couverts
Aux rires, aux refrains, aux récits d'aventures,
Aux baisers qu'on dérobe à vos belles futures,
Tandis que vous dormez dans les goémons verts!
On demande : -- Où sont-ils ? sont-ils rois dans quelque île?
Nous ont-ils délaissés pour un bord plus fertile? -
Puis votre souvenir même est enseveli.
Le corps se perd dans l'eau, le nom dans la mémoire.
Le temps, qui sur toute ombre en verse une plus noire,
Sur le sombre océan jette le sombre oubli.
Bientôt des yeux de tous votre ombre est disparue.
L'un n'a-t-il pas sa barque et l'autre sa charrue?
Seules, durant ces nuits où l'orage est vainqueur,
Vos veuves aux fronts blancs, lasses de vous attendre,
Parlent encor de vous en remuant la cendre
De leur foyer et de leur coeur!
Et quand la tombe enfin a fermé leur paupière,
Rien ne sait plus vos noms, pas même une humble pierre
Dans l'étroit cimetière où l'écho nous répond,
Pas même un saule vert qui s'effeuille à l'automne,
Pas même la chanson naïve et monotone
Que chante un mendiant à l'angle d'un vieux pont!
Où sont-ils, les marins sombrés dans les nuits noires?
Ô flots, que vous savez de lugubres histoires!
Flots profonds redoutés des mères à genoux!
Vous vous les racontez en montant les marées,
Et c'est ce qui vous fait ces voix désespérées
Que vous avez le soir quand vous venez vers nous!  

Biển đêm (Người dịch: Tố Hữu)

Ôi! Biết bao thuyền viên, thuyền trưởng
Buổi ra đi, vui sướng đường xa
Cuối chân trời u ám đã thành ma
Đã biến mất, đớn đau số phận
Đêm không trăng, giữa biển không cùng
Chôn vùi thân dưới đáy muôn trùng
Biết bao đã chết rồi, lái bạn
Cơn cuồng phong cuốn sạch trang đời
Ném tan tành trên mặt nước xa khơi
Còn ai biết nổi chìm kiếp ấy
Mỗi sóng xô vồ cướp lấy mồi
Một mảnh thuyền, một tấm thân trôi
Còn ai hay, hỡi người xấu số
Giữa mênh mông, thi thể về đâu
Trán anh va vào đá nhô đầu
Ôi! biết bao mẹ cha hy vọng
Ngày lại ngày trên bãi bờ quê
Ngóng trông ai không thấy trở về
Tối đến, trên đống neo hoen rỉ
Nhà nhà vui, bên lửa vây quanh
Có khi người nhắc đến tên anh
Trong khúc hát, tiếng cười, câu chuyện
Giữa cái hôn của cả người yêu
Lúc anh nằm dưới đáy xanh rêu
Người lại hỏi: anh đâu rồi nhỉ
Vua đảo nào, hay gặp chốn giàu sang?
Rồi chẳng ai còn nhớ... dần tan
Thân trong nước, tên trong trí nhớ
Thời gian qua dần phủ bóng đen
Trên biển sâu và lòng lãng quên
Chẳng ai nhớ dáng hình anh nữa
Người người lo thuyền lưới, đi cày
Chỉ đêm đêm, giông bão gào lay
Những người vợ bơ phờ mỏi mắt
Kể về anh, khêu lớp tro tàn
Của lòng đau và của lò than
Và đến lúc khép rồi nấm mộ
Chẳng còn ai biết nữa tên anh
Hòn đá trong nghĩa địa vắng tanh
Cả gốc liễu mùa thu trút lá
Và cả người hành khất bên cầu
Hát điệu buồn, ai nhớ anh đâu
Ôi! đâu hết những người thuỷ thủ
Chìm trong đêm, bi thảm đời người
Kinh hoàng bao lòng mẹ, biển ơi
Phải chăng lúc triều lên sóng vỗ
Những tiếng người tuyệt vọng kêu la
Mỗi chiều về, lại đến cùng ta!

Ông lão ăn mày (Victor Hugo, Pháp)

429-1

Le mendiant

Un pauvre homme passait dans le givre et le vent.
Je cognai sur ma vitre; il s’arrêta devant
Ma porte, que j’ouvris d’une façon civile.
Les ânes revenaient du marché de la ville,
Portant les paysans accroupis sur leurs bâts.
C’était le vieux qui vit dans une niche au bas
De la montée, et rêve, attendant, solitaire.
Un rayon du ciel triste, un liard de la terre.
Tendant les mains pour l’homme et les joignant pour Dieu.
Je lui criai: — Venez vous réchauffer un peu.
Comment vous nommez-vous? — Il me dit: — Je me nomme
Le pauvre. — Je lui pris la main: — Entrez, brave homme. —
Et je lui fis donner une jatte de lait.
Le vieillard grelottait de froid; il me parlait.
Et je lui répondais, pensif et sans l’entendre.
— Vos habits sont mouillés, dis-je, il faut les étendre
Devant la cheminée. — Il s’approcha du feu.
Son manteau, tout mangé des vers, et jadis bleu,
Étalé largement sur la chaude fournaise.
Piqué de mille trous par la lueur de braise,
Couvrait l’âtre, et semblait un ciel noir étoilé.
Et, pendant qu’il séchait ce haillon désolé
D’où ruisselait la pluie et l’eau des fondrières,
Je songeais que cet homme était plein de prières.
Et je regardais, sourd à ce que nous disions.
Sa bure où je voyais des constellations. 

Ông lão ăn mày (Người dịch: Phùng Văn Tửu)

Một ông già khốn khổ đi ngang qua trong gió, tuyết
Tôi gõ kính, ông dừng lại
Trước cửa nhà tôi, rộng mở ân cần
Nông dân đi chợ tỉnh đang lũ lượt về thôn
Ngồi xổm trên yên những chú lừaddungr đỉnh
Ông già ấy ở túp lều cuối dốc
Sống mơ ước, đợi chờ, cô độc
Một đồng tiền nơi mặt đất, một tia sáng nơi trời buồn
Chìa tay xin người và chắp tay cầu Chúa
Tôi gọi: - Cụ ơi, vào đây sưởi đã
Tên cụ là gì? - Cụ trả lời:
- Tôi là Kẻ khó. - Vào đi đã, cụ ơi!
Dắt tay cụ, tôi đưa mời bát sữa
Ông lão rét run; còn tôi thì tư lự
Tai nghe chẳng rõ, nhưng vẫn chuyện trò
- Áo ướt sũng, cụ ơi, giăng trước lò sưởi cho khô
Cụ bước lại gần lửa rực
Chiếc áo khoác, gián ăn, màu thanh thiên đã bạc
Trải rộng, chùm lên lò than
Đốm lửa soi qua lỗ chỗ muôn ngàn
Giống khoảng trời đen đầy sao lấp lánh
Trong lúc cụ hong manh áo nghèo cũ rách
Đẫm nước mưa và lấm đầy bùn
Tôi tưởng chừng như cụ đang tĩnh tâm cầu nguyện
Và chẳng để tai nghe những câu trò chuyện
Tôi nhìn tấm áo vải thô với những chòm sao

Technorati Tags:

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

Cái chết là gì Victor Hugo

Ce que c'est que la mort Cái chết là gì (Người dịch: Thứ Dân)
Ne dites pas: mourir; dites: naître. Croyez.
On voit ce que je vois et ce que vous voyez;
On est l'homme mauvais que je suis, que vous êtes;
On se rue aux plaisirs, aux tourbillons, aux fêtes;
On tâche d'oublier le bas, la fin, l'écueil,
La sombre égalité du mal et du cercueil;
Quoique le plus petit vaille le plus prospère;
Car tous les hommes sont les fils du même père;
Ils sont la même larme et sortent du même oeil.
On vit, usant ses jours à se remplir d'orgueil;
On marche, on court, on rêve, on souffre, on penche, on tombe,
On monte. Quelle est donc cette aube? C'est la tombe.
Où suis-je? Dans la mort. Viens! Un vent inconnu
Vous jette au seuil des cieux. On tremble; on se voit nu,
Impur, hideux, noué des mille noeuds funèbres
De ses torts, de ses maux honteux, de ses ténèbres;
Et soudain on entend quelqu'un dans l'infini
Qui chante, et par quelqu'un on sent qu'on est béni,
Sans voir la main d'où tombe à notre âme méchante
L'amour, et sans savoir quelle est la voix qui chante.
On arrive homme, deuil, glaçon, neige; on se sent
Fondre et vivre; et, d'extase et d'azur s'emplissant,
Tout notre être frémit de la défaite étrange
Du monstre qui devient dans la lumière un ange.
Đừng nói: chết; hãy nói: ra đời. Hãy tin
Người ta nhìn thấy điều anh và tôi cùng thấy
Người ta xấu như anh và tôi
Lao mình vào thú vui, hội hè, gió xoáy
Người ta cố quên đi mặt trái, ngày tận thế, thác gành
Cố quên sự bình đẳng của chúng sinh về cái chết và áo quan
Kẻ hèn mọn nhất cũng sánh ngang người giàu sang nhất
Mọi người là hạt lệ trào ra từ cùng một mắt
Họ là con của một cha duy nhất
Người ta sống, hao phí năm tháng cho tự kiêu
Đi, chạy, mơ màng, khom lưng, leo cao, ngã xuống trong khổ đau
Vậy cảnh bình minh đó là chi? Là ngôi mộ
Ta đang ở đâu? Trong cõi chết. lại đây! Cơn gió lạ
Cuốn ta tới ngưỡng trời. Ta run rẩy ngỡ ngàng
Tự thấy trụi trần ô uế, xấu xa, gò trói bởi ngàn nút màu tang
Sinh ra do lỗi lầm, tội ác, việc làm tối tăm
Bỗng ai đó hát trong không gian vô tận
Ai đó với ta tỏ ra trân trọng
Ta không thấy bàn tay trao tình yêu cho linh hồn ta độc ác
Cũng không biết giọng ai đang hát
Ta tới nơi là người, là tang, là tuyết, là băng
Ta cảm  tháy tan ra và sống
Lòng tràn mê ly và thiên thanh
Của quái vật trở thành thiên thần trong ánh sáng